Đồ gốm men trắng thế kỷ 11 – 14 (phần 1)

Gốm men trắng cùng các loại men khác tạo nên sự độc đáo của gốm thời Lý Trần:

Bên cạnh loại đồ gốm đất nung mang tính chất trang trí kiến trúc, thời Lý –Trần còn có nhiều loại hình thuộc các dòng gốm men khác như gốm men trắng, men ngọc, men nâu mà phần lớn là đồ gia dụng. Đây chính là loại sản phẩm lưu hành rộng khắp đất nước, đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngày của các tầng lớp cư dân, từ cung đình đến bình dân. Những đồ gốm này cũng thể hiện một trình độ cao, tiêu biểu về kỹ thuật cũng như chất lượng mỹ thuật trong khâu tạo hình và trang trí của nghề gốm ở nước ta.

Tại kinh thành Thăng Long, bên cạnh những lò gốm chuyên sản xuất vật liệu xây dựng và trang trí kiến trúc còn có những lò gốm sản xuất đồ gốm men. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện lưu giữ và trưng bày nhiều loại phế vật lò gốm, trong đó có nhiều chồng dính bát đĩa gốm men ngọc, men trắng và nâu. Dựa trên các hiện vật đã thu thập được, có xuất xứ từ các di tích của thành Thăng Long, chúng ta hãy cùng xem về dòng gốm men trắng độc đáo này.

Gốm men trắng ngà:

có thể coi là một dòng gốm đặc sắc, loại hình và trang trí có nhiều trường hợp tương đồng với loại men nâu và men ngọc, niên đại từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14. Loại hình chính gồm có ấm, bát, bình, chén, đài sen, đĩa, khuôn đúc, hũ, lọ, liễn, thạp, thống,… Hoa văn trang trí thể hiện kết hợp giữa chạm đắp nổi và khắc chìm. Đề tài trang trí phổ biến có băng cánh sen nổi, cánh to xen cánh nhỏ, băng hoa nổi, rồng giun uốn khúc kiểu thắt túi, hoa dây, hoa chanh, hình tháp, tiên nữ, phượng, sóng nước, vòng tròn nhỏ, vạch đứng song song, mây hình khánh.

Những đại diện tiêu biểu là loại ấm rượu men trắng ngà, cao 21,1 cm, miệng viền tròn, thân chia múi hình cánh hoa, vòi hình đầu rồng, quai hình chim vẹt ngủ, vai chạm nổi băng cánh sen đều đặn, cánh to xen cánh nhỏ.

Ấm rượu khác lại có dáng quả dưa, cao 20,4 cm, miệng loe cổ eo cao tạo nhiều ngấn, vòi ngắn, vai đắp nổi cánh sen, thành ngoài chạm khắc chìm hoa dây và chạm nổi băng sóng nước quanh chân, đáy lõm để mộc, men ngà rạn. Đây cũng là một trong số mẫu ấm thời Lý kết hợp tài khéo giữa tạo dáng và trang trí.

Chiếc ấm rượu khác lại có nắp đầy đủ, cao 22 cm, nắp có chỏm búp sen, còn ấm có gờ miệng tròn, thân hình cầu, đáy mộc, chân tạo ngấn con tiện, vòi ấm hình đầu rồng, quai hình chim vẹt, nắp và vai chạm nổi băng cánh sen.

Ấm trà chất liệu gốm men trắng ngà:

Chiếc ấm trà nhỏ thể hiện dáng tròn dẹt, cao 11,3 cm, thân tạo 8 múi nổi, chắc khoẻ tựa dáng quả bí ngô, vai và nắp chạm nổi băng cánh sen, men phủ trắng ngà. Cũng có loại ấm rượu với kích thước nhỏ, chỉ cao 7,6 cm, có miệng uốn, thân chia 8 múi dọc, chân đế thấp và rộng, vòi ngắn, quai hình chim vẹt, vai đắp nổi băng cánh sen, men trắng ngà.

Ngoài các dáng ấm kể trên còn xuất hiện loại ấm đặc biệt, tương đồng với ấm gốm hoa nâu cùng thời. Loại ấm này được tạo dáng giống như ghép một đĩa cao chân với một bát sâu lòng. Miệng ấm hình đĩa, cổ cao hình trụ với các đoạn hình đốt trúc, thân chia múi tạo hình bông sen nở, các đầu cánh vượt lên vai, uốn cong đều đặn. Vòi cao, quai cong hình khuyên, mặt nắp và vai chạm nổi băng cánh sen.

 

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

9 điều cơ bản cần biết về dòng gốm hoa nâu

1. Gốm hoa nâu được các chuyên gia gốm sứ thống nhất để mô tả một loại đồ gốm có trang trí hoa văn bằng men mầu nâu.

Thạp gốm hoa nâu thời Trần (thế kỷ XIII – XIV)

 2. Gốm hoa nâu thuộc loại sành xốp dầy, xương gốm thô và nặng được nung từ 1000 đến 1300 độ C.

3. Xuất hiện từ cuối thời Lý (thế kỷ XII) nhưng phát triển rực rỡ nhất dưới thời Trần (thế kỷ XIII – XIV)

4. Đa số hoa văn trên gốm hoa nâu được tạo bằng kỹ thuật cạo xương gốm khi mới phủ men nền, sau đó người thợ gốm dùng bút lông vẽ hoa văn mầu nâu trên phần đã được cạo, hay vạch vẽ hoa văn lên sản phẩm trên nền men nền rồi đem nung.

5. Hai nơi sản xuất gốm hoa nâu chính là ở vùng Thiên Trường (Nam Định) và Hoàng Thành Thăng Long.

6. Đề tài trang trí chủ đạo là sóng nước và hoa sen.

7. Nghệ thuật trang trí trên gốm hoa nâu được vẽ theo lối tả thực, gần gũi với cuộc sống, phản ánh tư tưởng của thời đại.

Mảnh thạp trang trí cảnh tập luyện võ nghệ thời Trần

 8. Vào cuối thời Trần sang đầu thời Lê sơ bắt đầu xuất hiện loại gốm vẽ màu nâu lên xương gốm sau đó mới phủ men.

 

9. Là dòng gốm được các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế đánh giá cao, được xem là dòng gốm cổ Việt Nam riêng biệt, không trộn lẫn với bất cứ một dòng gốm cổ nào trên thế giới.

Tìm hiểu cách thức sử dụng trống đồng Đông Sơn qua tư liệu khảo cổ học và dân tộc học

Trống đồng Đông Sơn là di vật tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất của nền văn hóa Đông Sơn. Trong 90 năm qua, kể từ ngày phát hiện văn hóa Đông Sơn, trống đồng Đông Sơn luôn được các nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu về tất cả các khía cạnh. Tuy nhiên, về chức năng cũng như cách thức sử dụng của trống đồng Đông Sơn vẫn chưa thực sự đồng nhất các quan điểm. Có ý kiến cho rằng, đây đơn thuần chỉ là một nhạc khí, nhưng cũng có ý kiến lại cho đây là vật biểu trưng quyền lực hoặc vừa là nhạc khí vừa là biểu trưng quyền lực. Song, xét về chung mọi ý kiến thì trống đồng là một loại nhạc khí được nhiều người công nhận hơn cả.

Là nhạc khí thì việc sử dụng nó được tiến hành ra sao? Vấn đề này cũng được các nhà khoa học dày công nghiên cứu. Việc nghiên cứu chủ yếu dựa trên các tư liệu về khảo cổ học và dân tộc học.

Thông qua các tư liệu về khảo cổ học

Trên khía cạnh khảo cổ học, nghiên cứu cách thức sử dụng trống đồng như một nhạc khí được căn cứ ở các đặc điểm trên bề mặt trống như cấu tạo, hiện trạng và hoa văn trên trống.

Về đặc điểm: Những trống đồng của văn hóa Đông Sơn đều thuộc loại I theo cách phân loại của F. Heger. Kết cấu trống đồng Đông Sơn gồm 4 phần: mặt, tang, thân và chân. Mặt trống hình tròn, giữa mặt đúc nổi hình mặt trời với 12 đến 18 tia, xung quanh trang trí nhiều băng hoa văn. Tang trống hơi phình ra, nối liền với mặt trống; thân trống hình trụ tròn thẳng đứng; phần chân hơi loe thành hình nón cụt. Có bốn chiếc quai chia làm hai cặp gắn vào tang và phần giữa trống, được trang trí hình bện thừng.

Như vậy vị trí đánh (gõ) trống chính là giữa mặt trống bởi chỗ này được đúc nổi hình mặt trời dày hơn để chịu nhiều tác động của vật đánh (dùi), các tia mặt trời sẽ làm lan tỏa âm thanh ra xung quanh. Tuy nhiên, phần tang và thân trống có thể cũng được đánh để tạo nên những đặc điểm âm thanh khác nhau. Ngoài ra, trống còn có một thùng cộng hưởng độc đáo: phần tang phình, phần thân và chân loe ra giúp cho trống có âm thanh vang xa, từ những âm thanh ban đầu được nhân lên về mặt cường độ. Một điều cần lưu ý là 4 quai trống được đúc đối xứng khá dày và chắc chắn. Điều này cho ta liên tưởng tới việc trống được luồn dây để treo lên trong quá trình sử dụng.

Về hiện trạng: Sau hàng nghìn năm tồn tại, nhiều chiếc trống đồng được tìm thấy còn tương đối nguyên vẹn. Xem xét về hiện trạng của nhiều chiếc trống đồng, ta thấy, phần lớn ở giữa mặt những chiếc trống, vị trí in nổi của mặt trời nhiều tia thường nhẵn, rỗ, hoặc bị biến dạng. Nguyên nhân có thể là do sự tác động thường xuyên của dùi? Điều này một lần nữa minh chứng trống chủ yếu được đánh/gõ vào vị trí chính giữa mặt trống.


Hình ảnh đánh trống trên mặt trống Cổ Loa (Nguồn: BTLSQG)

Trong nhiều tài liệu khảo cổ học, khi nhắc tới cách thức sử dụng trống đồng, phần lớn các tác giả đều dựa vào những họa tiết hoa văn trang trí trên trống. Xem xét trên bề mặt các trống như trống Ngọc Lũ, trống Hoàng Hạ, trống Cổ Loa và trống Sông Đà… ta có thể thấy bề mặt mỗi chiếc trống đều có 2 cảnh người đánh trống đối xứng nhau qua tâm. Theo đó thì một dàn trống thường có 4 chiếc cạnh nhau, phía trên là bốn người trong tư thế ngồi hoặc đứng dùng một cái cây dài để gõ thẳng đứng lên mặt trống. Theo Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội năm 1994) thì người xưa còn đào hố rộng ra rồi trống ở lơ lửng giữa hố, giúp âm thanh đã mạnh rồi lại mạnh hơn. Những hố cộng hưởng này còn thấy trên mặt trống đồng Ngọc Lũ.

Những tư liệu dân tộc học

Hiện nay, theo tác giả được biết, ở Việt Nam còn có một số dân tộc thiểu số sử dụng trống đồng trong sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng, tiểu biểu như người Mường, người Lô Lô, người Pu Péo… Đây là tư liệu quan trọng để đối sánh, so sánh tìm ra phương pháp sử dụng trống đồng như một nhạc khí của cư dân Việt cổ.

Cách đánh trống đồng của dân tộc Mường hiện nay tương đối giống như mô tả trên mặt các trống đồng đã kể trên, tức là theo lối giã gạo. Người Mường cũng dùng những dùi trống dài như chày giã gạo với khoảng 3 – 4 người đứng xung quanh để đánh vào mặt trống theo hướng thẳng đứng. Xem ra, cách đánh này chủ yếu mang tính tượng trưng của một tiết tấu vũ điệu hơn là về hiệu quả âm thanh. Do đó có thể hiểu tư thế để úp nằm của nó là để tiện cho nhiều người diễn tấu cùng một lúc. Trên thực tế, người Mường cũng đặt trống trên một cái giá gỗ thấp gồm hai thanh gỗ bắt chéo hình chữ thập làm sàn kê, có 4 chân ngắn để bớt hạn chế về nguyên tắc âm thanh.

Theo cuốn Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam (Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, năm 1997) thì phương thức diễn tấu trống đồng của các tộc khác như Lô Lô và Pu Péo tương đối giống với các dân tộc ở Hoa Nam (Trung Quốc).

Ngày nay, đồng bào Lô Lô nhiều vùng còn giữ được những bộ trống đồng, mỗi bộ gồm hai cái: trống đực (nhỏ hơn) và trống cái (to hơn). Trống có 4 quai bố trí thành từng cặp đối xứng nhau qua trục thân. Mặt và tang trang trí hoa văn nét nổi. Chính giữa mặt trống là hoa văn hình mặt trời với 12 tia. Trống đồng là loại nhạc cụ truyền thống nổi tiếng của người Lô Lô, tộc trưởng cất giữ trống đồng cho dòng họ, bảo quản bằng cách chôn xuống đất. Khi nào dùng thì mới đào lên. Khi dùng trống, họ đặt hai trống (đực và cái) treo quay mặt trống vào nhau. Người đánh trống đứng ở giữa cầm dùi đánh bằng hai đầu, cứ một đầu dùi đánh một trống và có tới 36 điệu đánh trống. Trống đánh giữ nhịp cho các điệu múa dân gian.


Người Lô Lô ở Hà Giang sử dụng trống đồng (Nguồn: Internet)

Hiện nay, người Pu Péo chỉ dùng trống đồng trong lễ làm chay. Cũng giống người Lô Lô, trống của người Pu Péo có 1 bộ gồm 1 trống đực và 1 trống cái. Bình thường cất trống trên sàn gác. Trước khi dùng phải cúng từng chiếc trống với lễ vật là hai bát rượu, con gà. Cúng xong, đổ rượu lên mặt trống rồi mới treo trống. Trống được treo ở cạnh cửa ra vào ở gian giữa, trống đực treo bên trái, trống cái treo bên phải. Hai mặt trống quay vào nhau. Người đánh trống phải là đàn ông đứng ở giữa dùng củ chuối gõ vào hai mặt trống theo sự điều khiển của thầy cúng. Người ta đánh trống, vui múa suốt một đêm một ngày. Đồng bào tin rằng hồn ngô lúa rất sợ tiếng trống vì thế họ chỉ làm chay sau khi mùa màng đã thu hoạch xong. Nhưng nếu vì hoàn cảnh phải dùng trống sớm hơn thì chỉ được đánh ba tiếng trống thôi – trống đực đánh một tiếng, trống cái hai tiếng.

Cách đánh trống của người Lô Lô và Pu Péo mô tả ở trên cũng cho thấy một phần cách nhìn này đối với từng cặp trống đực – cái có cao độ khác nhau.

Một vài nhận xét

Như vậy có thể thấy, trống đồng là một nhạc khí, vị trí để tác động lên trống chủ yếu là trung tâm của mặt trống, nơi có hình mặt trời được đúc khá dày. Tuy nhiên để tạo ra được những âm thanh khác nhau, có thể những vị trí xung quanh đó, bảo gồm cả tang và thân trống cũng được tận dụng để tác động.

Về tư thế, trống đồng được đánh dựa trên 2 kiểu chính: thứ nhất, ngửa mặt trống lên và tác động thẳng đứng xuống trung tâm mặt trống. Phía dưới chân trống có thể được kê lên cao hoặc tạo những “hố cộng hưởng”. Tuy nhiên, cách này chủ yếu mang tính chất diễn tấu, không mang lại hiệu quả về âm thanh; thứ 2, trống được buộc dây vào quai và treo lên, người đánh dùng dùi tác động vào mặt hoặc thân và tang trống. Cách này tạo có thể tạo ra được hiệu quả về âm thanh hơn và hiện nay vẫn còn được một số dân tộc thiểu số sử dụng.

Tùy thuộc vào kiểu đánh trống mà vật tác động lên trống (dùi) cũng dài ngắn khác nhau. Tuy nhiên, những chiếc dùi được làm bằng gỗ, đầu bọc vải để hạn chế làm biến dạng hoa văn trên trống.

Trải qua trên dưới 2000 năm, bên cạnh việc bảo lưu những nét đặc trưng từ thời Đông Sơn thì cũng có nhiều nét văn hóa đã mất, trong đó có phong tục đánh và sử dụng trống đồng. Do đó, việc phục dựng lại truyền thống đánh trống đồng ở người Việt hiện nay cũng còn nhiều quan điểm và luận giải khác nhau. Với phương pháp tiếp cận liên ngành khảo cổ học và dân tộc học, chúng ta có thể tìm hiểu về cách thức đánh trống đồng của người Việt cổ một cách tương đối toàn diện. Tuy nhiên, bài viết này chỉ có thể đưa ra những tư liệu mang tính chất gợi mở. Trong tương lai, cần có những nghiên cứu thêm về vấn đề này.

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Minh Huyền 1996. Văn hóa Đông Sơn, tính thống nhất và đa dạng. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

2. Hán Văn Khẩn (Chủ biên) 2008. Cơ sở Khảo cổ học. Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

3. Nguyễn Đình Khoa 1983. Các dân tộc ít người ở Việt Nam. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

4. Hà Văn Tấn (Chủ biên) 1994. Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

5. Phạm Huy Thông (Chủ biên) 1990. Dong Son Drums in Viet Nam. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

6. Viện dân tộc học 1987. Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc). Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

7. Nhiều tác giả 1999. Phong tục tập quán của các dân tộc Việt Nam. Nxb. Văn hóa – Dân tộc, Hà Nội.

Về gốm Đường Cồ – một loại gốm thuộc văn hóa Đông Sơn

Trong văn hóa Đông Sơn, chúng ta thường bắt gặp một thuật ngữ quen thuộc là “gốm Đường Cồ”. Vậy gốm Đường Cồ là gì? Tại sao lại gọi là gốm Đường Cồ?

Đường Cồ là một địa điểm khảo cổ học thuộc thôn Liệt Phương, xã Hoài Đức, huyện Phú Xuyên (Hà Nội). Từ kết quả khai quật tại đây, các nhà khảo cổ học đã chú ý tới một loại hình gốm với những nét đặc trưng như kiểu miệng loe thành cong lòng máng, văn thừng thô, tạo thành những vết lõm như tổ ong, màu gốm trắng mốc, phớt hồng. Qua so sánh nhận thấy, đây là loại gốm phổ biến trong các di chỉ khảo cổ học thuộc giai đoạn văn hóa Đông Sơn khu vực trung du và đồng bằng Bắc bộ, có sự khác biệt so với gốm ở lưu vực sông Mã, sông Cả. Từ đó, thuật ngữ “gốm Đường Cồ” bắt đầu được sử dụng để chỉ loại hình gốm địa phương tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng.

Gốm Đường Cồ trắng mốc và phớt hồng tại di chỉ khảo cổ học Đình Tràng, Đông Anh, Hà Nội (Nguồn: Lương Thị Hà)

Gốm Đường Cồ thể hiện sự tiến bộ rõ rệt về kỹ thuật chế tác gốm trong văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ. Đất sét pha cát tương đối mịn, đều để làm xương gốm được chọn, sàng lọc cẩn thận, ít tạp chất nên gốm tương đối đanh, cứng và ít thấm nước. Gốm được nung ở nhiệt độ khá cao, khoảng 900oC. Bề ngoài gốm có màu sáng: trắng đục ngả vàng, hồng nhạt hay trắng mốc. Bên trong gốm có màu xám đen đều.

Tuy nhiên, về kiểu dáng và hoa văn trang trí, nhìn chung gốm Đường Cồ có phần suy giảm đáng kể so với các giai đoạn trước. Có lẽ, những người thợ Đông Sơn đã tập trung thời gian, trí lực, công sức vào các loại hình đồ đồng nhiều hơn. Bởi lẽ, các loại hình và đồ án hoa văn đẹp mắt mà ta thấy trên đồ gốm của giai đoạn trước đều có mặt trên đồ đồng của văn hóa Đông Sơn.

Gốm Đường Cồ trong mộ Đông Sơn tại di chỉ khảo cổ học Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội

Gốm Đường Cồ phân bố chủ yếu ở vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ, có nguồn gốc và phát triển trực tiếp từ giai đoạn văn hóa Gò Mun. Kết quả khai quật tại di chỉ Vinh Quang (Hoài Đức, Hà Nội) đã chứng tỏ điều này. Đồ gốm lớp dưới di chỉ này mang tính chất của gốm Gò Mun, càng lên các lớp trên, tần suất xuất hiện của gốm Đường Cồ càng nhiều, đến lớp trên cùng (thuộc văn hóa Đông Sơn), chỉ còn tìm thấy gốm Đường Cồ. Bên cạnh gốm Đường Cồ ở lưu vực sông Hồng, loại hình gốm địa phương của văn hóa Đông Sơn còn có gốm Đông Sơn ở lưu vực sông Mã, gốm Làng Vạc ở lưu vực sông Cả.

Như vậy, gốm Đường Cồ là một trong 3 loại gốm tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn tuy không được chú ý về hình thức như đồ đồng, song, gốm có chất lượng tốt, kỹ thuật cao hơn so với loại hình gốm lưu vực sông Mã hay sông Cả. Gốm Đường Cồ được phát triển trực tiếp từ loại gốm Gò Mun lên. Cùng với hiện vật đồng, trong văn hóa Đông Sơn, những hiện vật gốm đã phản ánh một cách khách quan đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Việt cổ giai đoạn này.

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Những nhận thức ban đầu về trống đồng

Trống đồng là một hiện vật tiêu biểu và độc đáo xuất hiện từ thời đại đồ đồng của các quốc gia ở vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Những chiếc trống đầu tiên được phát hiện cách đây hơn 100 năm bởi những nhà sưu tập cổ vật và những học giả phương Tây.

Khi đó, những nhận thức của họ về trống đồng rất mơ hồ. Chỉ đến khi Frans Heger (1853-1931), một nhà khảo cổ học người Áo đi sâu tìm hiểu thì những nhận thức về trống đồng mới bắt đầu được định hình.


Frans Heger (1853-1931) (nguồn: Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Áo).

Trong nghiên cứu của mình, Heger cho biết, vào năm 1882, Bảo tàng triều đình và hoàng đế nước Áo về nghệ thuật và công nghệ tổ chức một cuộc trưng bày về đồ đồng. Tại đây, có một hiện vật lớn bằng đồng thể hiện theo hình nổi đã làm cho các nhà khảo cổ học và những người sành về nghệ thuật hết sức chú ý về hình dáng và kích thước của nó. Bề mặt hiện vật bao phủ một lớp thanh đồng và có những dấu vết trang trí có một tính chất hết sức đặc biệt. Theo những ghi chép của Heger, người ta đã suy nghĩ đến “nát óc” về ý nghĩa của hiện vật đáng chú ý đó cũng như về nguồn gốc và niên đại của nó. Một vài người cho rằng đó là một cái bàn có hình dạng đặc biệt, những người khác lại cho rằng đó là một cái nồi. Tuy nhiên, theo quan sát của Heger, “trên bề mặt có những hình trang trí phần thì đúc nổi, phần thì khắc chìm bao phủ khắp diện tích hiện vật và những hình còn lại có mặt ở phía ngoài của thành hình tròn, rìa của tấm hình tròn đạy khít mặt phía trên. Điều này làm cho ông nghi ngờ về hai giả thiết trên. Những quan niệm về xuất xứ của hiện vật này lại càng khác biệt nhau hơn nữa. Người ta phỏng đoán rằng có lẽ xuất xứ của hiện vật đó là vùng Syria hoặc là ở vùng Trung Á. Nhưng một vài nhà khảo cổ lại cho rằng hiện vật đó là từ vùng Mech xích cô. Chỉ có một điều có thể khẳng định, qua hình dạng bên ngoài và hoa văn trang trí thì đây là hiện vật quý có niên đại rất cổ.

Theo tìm hiểu của Heger, người có hiện vật này và đưa ra trưng bày là Bá tước Hans Graf Ilesek. Năm 1880, ông đã mua được của một người buôn bán đồ cổ ở Florence (Ý), người này cũng mua lại được của một người buôn bán trung gian. Thời gian đó cũng như sau này không có chi tiết gì chính xác về xuất xứ của hiện vật cổ.

Trong tập ảnh giới thiệu triển lãm về đồ đồng lịch sử trong Bảo tàng triều đình và hoàng đế nước Áo về nghệ thuật và công nghệ, in lần thứ 2 ở Vienna năm 1883, hiện vật này được mô tả với số 510, trang 24 như sau: “Chậu lớn, đúc, trang trí rất phong phú bằng những hình cổ sơ. Trên thành có một băng trang trí bằng hình, trông có vẻ là con cá vẽ cách điệu. Đường kính ở đáy là 0,745m, đường kính ở miệng 0,60m, chiều cao 0,35m. Xuất xứ không rõ. Mua được ở Ý, có lẽ là đồ nhập cảng”.

Vì ở đây người ta cho rằng hiện vật đó là một đồ để chứa đựng nên đã đặt tấm mặt trang trí đặt xuống phía dưới. Cũng vì quan niệm sai như vậy nên chúng ta sẽ gặp một trường hợp tương tự một cách ngẫu nhiên và chính vì vậy không lấy gì làm lý thú cả.

Phải đến năm 1883, tác giả của những đồ đồng này tìm đến một người có tên là Anton Payer. Anton Payer là người Áo nhưng đã làm việc trong một thời gian dài ở triều đình của vua Xiêm và trước đó đã trải qua 3 năm theo Phật giáo. Qua đó Anton Payer đã thu lượm được một sự hiểu biết chính xác về đất nước này, về những người dân và nền văn hóa của đất nước này. Mùa hè năm 1883, khi họ thăm triển lãm đồ đồng, Anton Payer quan sát thật kỹ vô số hiện vật bằng đồng thuộc miền đông châu Á, trong đó có cả hiện vật mà ta đang nói tới. Khi trông thấy hiện vật này, Payer xăm xăm bước tới và khi nghe hỏi về xuất xứ và ý nghĩa của nó đã trả lời một cách chắc chắn: “Hiện vật này là một cái trống và xuất xứ là ở Xiêm”. Anton Payer phân tích, chiếc trống này được buộc dây thừng vào 4 chiếc quai và treo lên giá gỗ, mỗi chiếc trống như vậy đều có một chiếc dùi để gõ lên hình ngôi sao trên giữa tấm mặt tròn. Những chiếc trống này hiện nay vẫn còn được sử dụng trong cung điện vua Xiêm và một số ngôi chùa Phật giáo.

Từ đây, F. Heger bắt đầu hướng nghiên cứu mới của mình với loại hình trống đồng. Ông phát hiện ra rằng, trống đồng không chỉ phổ biến ở Thái Lan mà cả ở toàn khu vực Đông Nam Á. Ông cũng khẳng định rằng trống đồng xuất phát từ miền Bắc Việt Nam và trung tâm các cuộc tìm kiếm sau này về trống đồng phải là ở vùng này. Những nghiên cứu về trống đồng của Heger đặc biệt là cách phân loại trống đã được các nhà nghiên cứu sau này sử dụng một cách rộng rãi như một ghi nhận đối với công lao của ông đối với việc nghiên cứu trống đồng.

 

Trống đồng Ngọc Lũ, Bảo vật Quốc gia của Việt Nam

Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Tài liệu tham khảo:

1. Frans Heger 1902. Trống đồng ở Đông Nam Á, Bản dịch của Viện Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam (Tư liệu đánh máy của Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

2. Phạm Huy Thông 1990, Dong Son Drums in Vietnam, Nxb. Khoa học Xã Hội.

3. http://www.zobodat.at/D/runD/D/cacheD/personen_details.php?nr=53339.

Tổng thuật tọa đàm khoa học quốc tế: Văn hóa Đông Sơn và nguồn gốc dân tộc Việt

Trong các ngày từ mồng 8 đến 10 tháng 8 năm 2014, tại Hà Nội và Thanh Hóa, Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa tổ chức Tọa đàm khoa học Quốc tế “Văn hóa Đông Sơn và nguồn gốc dân tộc Việt”. Hội thảo được tổ chức nhằm nhìn nhận lại 90 năm nghiên cứu Văn hóa Đông Sơn (VHĐS) kể từ khi được phát hiện (năm 1924) và thảo luận một số vấn đề cần được tiếp tục quan tâm, khi gần đây có ý kiến phủ nhận các kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội Việt Nam về tính bản địa và chủ nhân của nền văn hóa này. Tham dự hội thảo có các nhà nghiên cứu Khảo cổ học, Dân tộc học, Sử học …Việt Nam, Nhật Bản, Lào, Campuchia.

Mở đầu cuộc tọa đàm là tham luận của PGS.TS Nguyễn Giang Hải – PGS.TS Trình Năng Chung (Văn hóa Đông Sơn – chín mươi năm phát hiện và nghiên cứu) nhìn nhận lại lịch sử phát hiện và nghiên cứu của VHĐS. Vào mùa hè năm 1924, di tích Đông Sơn được phát hiện tình cờ do một người nông dân đi câu cá tìm thấy một số đồ đồng xuất lộ bên sông Mã. Từ năm 1924 đến 1932, các cuộc khai quật Đông Sơn lần đầu tiên được tiến hành dưới sự điều khiển của L. Pajo – một viên chức Pháp và cũng là người sưu tập cổ vật ở Thanh Hóa. Sự kiện này gây sự chú ý lớn đối với giới khoa học của trường Viễn Đông Bác cổ Pháp. Từ sau đó, hàng loạt cuộc khai quật và nghiên cứu di chỉ Đông Sơn cùng các sưu tập hiện vật ở khắp miền Bắc Việt Nam thu hút sự quan tâm của giới khoa học trong khu vực. Đến năm 1934, Nhà khảo cổ học người Áo R. Heine Geldern đề nghị gọi thời kỳ của nền văn hóa này là “Văn hóa Đông Sơn”. Thuật ngữ này nhanh chóng được thừa nhận và sử dụng rộng rãi song nội dung của nền văn hóa này (chủ nhân, niên đại, đặc trưng…) lại được diễn giải theo nhiều hướng khác nhau.
Sau năm 1954, ngành Khảo cổ học non trẻ Việt Nam tiến hành điều tra cơ bản và nghiên cứu, nhằm làm rõ hơn các nội dung của VHĐS. Hàng loạt các di chỉ được phát hiện ở nhiều địa phương trên toàn miền Bắc, trong đó có những phát hiện quan trọng như các di chỉ Phùng Nguyên (Phú Thọ), Thiệu Dương (Thanh Hóa), Gò Mun (Phú Thọ), Đồng Đậu (Vĩnh Phúc), Làng Vạc (Nghệ An), kho mũi tên đồng ở Cổ Loa, thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái), mộ thuyền Việt Khê (Hải Phòng) v. v. Với nhiều công trình nghiên cứu vừa tổng hợp, vừa chuyên sâu được công bố, các khía cạnh của VHĐS lần lượt được làm sáng tỏ, song vẫn còn nhiều vấn đề tranh luận. VHĐS vẫn là đề tài có sức thu hút lớn của các nhà khoa học trên con đường dài tìm hiểu lịch sử dựng nước của tổ tiên ta.

Trống đồng Đông Sơn

Sau tham luận mang tính tổng hợp trên đây, 13 tham luận đã được trình bày cùng các ý kiến trao đổi tại cuộc tọa đàm, đã làm sáng tỏ hơn nhiều vấn đề khoa học như là những nhận thức cơ bản về VHĐS.

1.Về không gian phân bố

Đến nay, thống kê chưa đầy đủ, gần 400 di tích Đông Sơn được phát hiện và nghiên cứu. Các nhà khảo cổ học đều cho rằng, VHĐS bao quát địa bàn ba vùng: vùng sông Hồng với trung tâm là làng Cả (tỉnh Phú Thọ); vùng sông Mã, sông Chu, với trung tâm là làng Đông Sơn (tỉnhThanh Hóa); vùng sông Cả với trung tâm là làng Vạc (tỉnh Nghệ An); về cơ bản trùng với miền Bắc Việt Nam hiện nay; song cư dân Đông Sơn sống tập trung ở đồng bằng là chính. Quá trình tạo lập VHĐS cũng chính là quá trình các cộng đồng cư dân chiếm lĩnh đồng bằng – nơi có đất đai rộng, thích hợp với việc trồng lúa nước. Giữa ba trung tâm trên có mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên giao lưu, trao đổi với nhau, tạo nên sắc thái Đông Sơn thống nhất trong đa dạng. Sự tồn tại hàng mấy trăm di tích trong một không gian văn hóa với những môi trường sinh thái đa dạng là cơ sở cho việc hình thành các loại hình địa phương tiêu biểu. Tính đa dạng này thể hiện qua địa tầng học, chủ yếu trong di tích Đông Sơn ở Thanh Hóa, ở tổng thể các hiện vật Đông Sơn (chủ yếu ở loại hình trống đồng Đông Sơn); qua các phạm trù, các khái niệm, các nhận thức của các nhà nghiên cứu Khảo cổ học, Sử học, Văn học dân gian (Tham luận – TL của PGS.TS Phạm Minh Huyền, PGS.TS Trình Năng Chung).

Tuy nhiên, tham luận của PGS.TS Phạm Đức Mạnh (Dấu ấn Đông Sơn ở “phương Nam” Việt Nam) đưa ra những chứng cứ khảo cổ học xác đáng về “cuộc di cư của cư dân VHĐS vào miền Trung, vùng các cao nguyên Nam Trung Bộ từ đầu thế kỷ I sau Công nguyên”. Khi đi vào vùng đất mới, cư dân VHĐS đã hòa nhập với cư dân bản địa thuộc Văn hóa Sa Huỳnh, sáng tạo ra một trung tâm khai khoáng luyện kim đúc trống đồng Đông Sơn. Việc phát hiện các “nghĩa trang trống đồng kiểu Đông Sơn” ở Nam Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Nam Bộ …là minh chứng rõ nhất cho sự chuyển cư của cư dân Đông Sơn đến các vùng đất này; từ đó có nhà khoa học đưa ra luận điểm về “Ba khối kết tinh Đông Sơn- Sa Huỳnh- Đồng Nai” với các đặc trưng chung về kỹ thuật tinh chế kim loại màu “kiểu Đông Sơn” lan truyền theo đường bộ, đường thủy…, tạo ra tam giác phát triển Bắc -Trung – Nam của VHĐS.

Đặc biệt, hai tham luận (Giới thiệu sơ lược về những phát hiện VHĐS tại huyện Sepon, tỉnh Savannakhet, CHDCND Lào) của nhà nghiên cứu Lào – TS Thonglith Luangkhot và của các nhà nghiên cứu Campuchia (Trống đồng Đông Sơn ở Đông Nam Campuchia) thu hút sự quan tâm của các giới khoa học Việt Nam trong cuộc tọa đàm; chứng minh VHĐS có phạm vi phân bố và có sức lan tỏa rộng rãi.

2. Về niên đại và các giai đoạn phát triển

Các nhà nghiên cứu Việt Nam đều thống nhất VHĐS tồn tại từ cuối thời đại đồ đồng thau đến đầu thời đại đồ sắt, từ thế kỷ VIII – VII trước Công nguyên (tr. CN) đến thế kỷ I – II sau Công nguyên (s. CN). Tuy nhiên, việc phân giai đoạn còn có những ý kiến khắc nhau. Đa số các ý kiến đều cho rằng, VHĐS trải qua ba giai đoạn phát triển kế tục nhau:

– Giai đoạn sớm (thế kỷ VIII – VI tr. CN) là giai đoạn chuyển tiếp từ Văn hóa Tiền Đông Sơn lên Đông Sơn. Các di chỉ tập trung ở vùng đồng bằng cao xung quanh Hà Nội.

– Giai đoạn giữa (thế kỷ V – III tr. CN) là giai đoạn những đặc trưng cơ bản của VHĐS phát triển rực rỡ. Bộ di vật đồ đồng đặc trưng Đông Sơn phong phú về chủng loại và số lượng. Trống đồng xuất hiện là biểu hiện của kỹ thuật đúc đồng đạt tới đỉnh cao cả về kỹ thuật và mỹ thuật. Bộ đồ sắt cũng được hoàn thiện. Đây cũng là giai đoạn VHĐS có mối giao lưu mạnh với các khu vực lân cận.

– Giai đoạn muộn (thế kỷ II tr. CN – thế kỷ I – II s. CN) xuất hiện di tích thành lũy Cổ Loa và các kho vũ khí, mộ thuyền phát triển, trống đồng được phát hiện nhiều…; đồng thời xuất hiện các hiện vật của văn hóa Hán ở lớp trên của VHĐS và trong các ngôi mộ Đông Sơn muộn (TL của Trình Năng Chung và các TL khác).

Tuy nhiên lại có ý kiến chia VHĐS thành 4 giai đoạn ứng với các di chỉ Phùng Nguyên – Đồng Đậu – Gò Mun và Đông Sơn), hoặc 5 giai đoạn (TL của Phạm Minh Huyền), hay 6 giai đoạn phát triển (ý kiến trao đổi của Diệp Đình Hoa) dựa trên các loại hình văn hóa địa phương.

3. Về đặc trưng bộ sưu tập hiện vật của VHĐS

Phần lớn hiện vật của VHĐS được phát hiện trong các di chỉ cư trú và khu mộ táng, rất phong phú, gồm nhiều chất liệu khác nhau (đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, đồ xương…). Chiếm số lượng nhiều nhất, đẹp nhất, có tính tiêu biểu trong số các loại hiện vật này là nhóm đồ đồng, được chủ nhân Đông Sơn tạo ra với kỹ thuật đúc điêu luyện và tính thẩm mỹ cao. Hơn 400 trống đồng Đông Sơn được phát hiện được coi là di vật tiêu biểu nhất cho quá trình dựng nước của cư dân Đông Sơn. Ngoài ra còn có các công cụ sản xuất (tiêu biểu là lưỡi cày), dụng cụ sinh hoạt (tiêu biểu là thạp đồng), đồ trang sức, vũ khí (tiêu biểu là mũi tên đồng, giáo…).

4. Cơ sở kinh tế – xã hội của VHĐS

Cư dân Đông Sơn cư trú chủ yếu ở vùng đồng bằng và trung du nên sống bằng nghề trồng lúa với ba hình thức canh tác đất khác nhau: nông nghiệp dùng gậy chọc lỗ ở miền núi, nông nghiệp dùng cuốc ở trung du và nông nghiệp dùng dùng cày ở đồng bằng, trong đó nông nghiệp dùng cày (canh tác lúa nước) là chủ đạo, với trình độ cao, là sự kế tục của nghề nông từ hậu kỳ đá mới. Điều này được chứng minh qua các dấu tích thóc gạo, vỏ trấu, các công cụ (liềm, cuốc, lưỡi cày…), các đồ chứa đựng. Các dấu tích này phù hợp với ghi chép trong các tài liệu thư tịch cổ Trung Quốc. Ngoài lúa nước, cư dân Đông Sơn còn trồng các loại cây củ, cây rau (được chứng minh qua phân tích bào tử phấn hoa).

Thời kỳ VHĐS cũng là thời kỳ các nghề thủ công phát triển mạnh với các nghề luyện kim, đúc đồng, làm gốm, chế tác đá, dệt vải, đan lát, mộc, sơn, nấu thủy tinh… được phát hiện dấu tích trong các di chỉ khảo cổ học (TL của PGS.TS Trình Năng Chung, PGS.TS Trịnh Sinh).

Sự phát triển của các ngành kinh tế tạo tiền đề cho sự phân hóa xã hội. Tham luận của Trịnh Sinh (Hệ thống văn hóa Tiền Đông Sơn – Đông Sơn và vấn đề nhà nước sớm ở miền Bắc Việt Nam) chỉ ra những biểu hiện của phân hóa xã hội qua các dấu tích khảo cổ học, qua thư tịch, từ đó xuất hiện xung đột và chiến tranh, xuất hiện các thủ lĩnh quân sự, liên minh các bộ lạc, dẫn đến sự hình thành quốc gia và nhà nước. 15 bộ hợp thành quốc gia Văn Lang mà sử cũ ghi lại, theo Trịnh Sinh ứng với 11 trung tâm kinh tế – chính trị của VHĐS trên địa bàn lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Chu và sông Lam. Thời kỳ VHĐS cũng là thời kỳ hình thành các phong tục, tín ngưỡng, đời sống tinh thần với các yếu tố được bảo lưu đến ngày nay (TL của Trình Năng Chung, Bùi Xuân Đính).

5. Về chủ nhân của VHĐS

Đây là vấn đề được thảo luận sôi nổi từ trước đến nay cũng như tại cuộc tọa đàm này. Trước đây, nhiều nhà khoa học nước ngoài và một số nhà khoa học Việt Nam cho VHĐS có nguồn gốc bên ngoài Việt Nam, như từ vùng thảo nguyên Âu – Á (Janse, 1947), từ lưu vực sông Hoài ở Trung Quốc (B. Karigen, 1942), hay từ bờ Biển Đen (Geldern, 1951), từ Chiết Giang – Trung Quốc (Đào Duy Anh, 1957), từ ngoài biển và hải đảo (Bình Nguyên Lộc, 1971). Gần đây, trong cuốn Nguồn gốc người Việt – người Mường mới xuất bản năm 2013, Tạ Đức cho rằng, các nền văn hóa Phùng Nguyên – Đồng Đậu – Gò Mun – Đông Sơn thuộc hai chủ nhân khác nhau: người Mường (vốn là người Mon, Man hay Mân Việt ở Phúc Kiến – Đông Bắc Quảng Đông) chuyển đến Việt Nam lập ra các văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun; còn chủ nhân đích thực của Văn hóa Đông Sơn là người La Va hay Lạc Việt, từ vùng Chiết Giang đến Việt Nam sau người Mường (cách đây trên dưới 3000 năm). Sự ra đời và phát triển của nền Văn hóa Đông Sơn về cơ bản gắn với các cuộc thiên di của các nhóm Bách Việt từ phương Bắc.

Các tham luận của Nguyễn Khắc Sử (Đi tìm nguồn gốc văn hóa Đông Sơn), Bùi Xuân Đính (Các tộc người thuộc ngôn ngữ Việt -Mường và Văn hóa Đông Sơn) và các tham luận khác kế thừa các thành tựu nghiên cứu khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học… đã chứng minh Văn hóa Phùng Nguyên mang tính bản địa ở Bắc Bộ; được coi là “khúc mở đầu” cho các văn hóa tiền Đông Sơn, tạo ra Phổ hệ Phùng Nguyên – Đồng Đậu – Gò Mun – Đông Sơn, mang tính liên tục cho diễn trình hình thành và phát triển VHĐS ở lưu vực sông Hồng; có sự tương hợp giữa địa bàn phân bố của VHĐS với địa bàn cư trú của các tộc người thuộc ngôn ngữ Việt – Mường. Chủ nhân của của VHĐS là người Lạc Việt, tức Việt cổ, trước đây được cho là tổ tiên của người Việt và người Mường hiện nay. Tham luận của Bùi Xuân Đính còn mở rộng ra với cả người Thổ (gắn với trung tâm làng Vạc ở Nghệ An) và người Chứt. Điều này được minh chứng không chỉ ở chính các di tích khảo cổ học mà còn các phong tục, tín ngưỡng, ở sự tương đồng giữa hoa văn trống đồng Đông Sơn và hoa văn cạp váy Mường, giữa nghệ thuật Đông Sơn và nghệ thuật đầu váy Mường, đặc biệt là chứng tích ngôn ngữ – yếu tố “bảo thủ”nhất trong các yếu tố văn hóa. Giữa tiếng Việt với tiếng Mường, Thổ, Chứt có sự giống nhau đậm đặc cả về âm, thanh điệu, cấu trúc câu và vốn từ vị cơ bản; là sự giống nhau hiếm thấy giữa ngôn ngữ các tộc người. Cách đây khoảng trên dưới 4000 năm, người Việt Cổ có sự phân hóa, dần dần hình thành các khối. Khối chuyển xuống vùng châu thổ Sông Hồng, môi trường sống thay đổi, sau đó chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, dần dần trở thành người Việt (Kinh). Khối sống ở các thung lũng chân núi tỉnh Hòa Bình và một phần tỉnh Thanh Hóa, không chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, trở thành người Mường hiện nay. Khối ở lại khu vực đồi núi tỉnh Nghệ An và một phần Thanh Hóa, hình thành những yếu tố văn hóa riêng để trở thành người Thổ; một nhóm ở Hà Tĩnh, Quảng Bình trở thành người Chứt. Trong bốn tộc người trên, hai tộc Việt và Mường còn đậm dấu vết VHĐS nhất, thể hiện không chỉ ở tiếng nói, mà cả phong tục, tín ngưỡng, (nhất là tục và tín ngưỡng liên quan đến trống đồng), văn học dân gian.

Về một số ý kiến cho rằng, chủ nhân của VHĐS có nguồn gốc bên ngoài, tham luận của Nguyễn Khắc Sử (Đi tìm nguồn gốc VHĐS), chứng minh VHĐS có nguồn gốc từ tiền Đông Sơn với các nền văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun. Chủ nhân của Văn hóa Phùng Nguyên không phải là người Mân (Môn) từ Phúc Kiến chuyển cư bằng đường biển sang, định cư ở Phú Thọ và lập ra văn hóa này mà là các cư dân sở tại ở Bắc Việt Nam, hoặc ở ngay vùng trung du Bắc Bộ, hoặc từ các vùng núi phía Bắc (Sơn La), phía Tây (Hòa Bình) hay Tây Nam (Thanh Hóa)… Tham luận của Trình Năng Chung (Mối quan hệ giữa VHĐS và Văn hóa Khả Lạc ở Nam Trung Quốc) chỉ ra những nét khác nhau cơ bản giữa hai nền văn hóa này, thể hiện qua các yếu tố: nghề trồng lúa, đồ gốm, muôi đồng, đồ trang sức, bộ sưu tập nhạc khí ở mộ táng, bộ sưu tập vũ khí, tục chôn cất và mộ táng,…; từ đó đưa ra kết luận, giữa VHĐS và Văn hóa Khả Lạc dù có mối quan hệ nhất định, nhưng về cơ bản là khác biệt nhau; trong sưu tập văn hóa Khả Lạc rất khó tìm được tinh hoa của VHĐS, ngược lại, những ảnh hưởng của dấu ấn Khả Lạc trên đất Đông Sơn rất mờ nhạt, do vậy, luận điểm VHĐS do người Khả Lạc thiên di sang và lập ra là không có cơ sở. VHĐS có quan hệ với Sa Huỳnh, Nam Trung Quốc, các nền văn hóa ở khu vực Đông Nam Á hải đảo và lục địa; song không phải là yếu tố chủ đạo. Cội nguồn của VHĐS nằm trong nội lực của chính các nền văn hóa tiền Đông Sơn; không phải từ các yếu tố xa lạ như các học giả nước ngoài từng suy luận và gần đây một số tác giả trong nước cho rằng văn hóa và con người Đông Sơn là kết quả của sự thiên di. Thời kỳ VHĐS có thể có các nhóm cư dân từ nơi khác đến song không phải là chủ thể sáng tạo ra nền văn hóa này. Chủ nhân của VHĐS là người Việt Cổ – những cộng đồng đã sinh sống và khai thác ba dòng sông Hồng – Mã – Lam từ khá lâu và đến thời Đông Sơn đã lập ra nhà nước sơ khai Văn Lang – Âu Lạc (TL của Trịnh Sinh).

VHĐS phát triển từ nội lực song cũng một phần nhờ giao lưu với các văn hóa khác. Giao lưu giúp cho VHĐS có thêm sức sống mãnh liệt, hình thành bản lĩnh mang tính cách Việt: năng động, giao lưu rộng mở, nhưng không mất đi bản sắc riêng. Chính điều này làm cho VHĐS tiếp tục tồn tại và phát triển trong giai đoạn đầu thời Bắc thuộc. Sức sống VHĐS chống lại quá trình Hán hóa trong thời Bắc thuộc là phản ánh quá trình đấu tranh của người Việt thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa chống các thế lực phong kiến Hán tộc; trong lúc đó các quốc gia của các nhóm Bách Việt khác ở Nam Trung Quốc hình thành cùng nước Văn Lang lần lượt bị nhập vĩnh viễn vào đế chế Trung Hoa. Điều này được khẳng định qua tham luận của Hoàng Xuân Chinh (Sức sống VHĐS trong nghìn năm Bắc thuộc).

Tóm lại, VHĐS có nguồn gốc bản địa, có nền tảng cơ sở từ thời đại đồ đồng và xa hơn là thời đại đá mới ở Việt Nam; chủ nhân của VHĐS chính là các tộc người thuộc ngôn ngữ Việt Mường hiện nay. Đó là sự khẳng định lại một lần nữa từ cuộc tọa đàm khoa học quốc tế “Văn hóa Đông Sơn và nguồn gốc dân tộc Việt”.

VHĐS là đề tài lớn, hấp dẫn. Cuộc tọa đàm nhỏ này chưa thể giải quyết được các vấn đề còn đang tranh luận. Được biết, sắp tới Viện Khảo cổ học được Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giao thực hiện chương trình nghiên cứu “Sức sống Văn hóa Đông Sơn”. Viện cũng phối hợp với các đồng nghiệp Lào, Campuchia và Thái Lan thực hiện chương trình nghiên cứu “Hành lang văn hóa Đông Tây”, nhằm làm sáng tỏ hơn các vấn đề về nền văn hóa truyền thống, bản địa của mỗi nước./.

Nguồn tin: vanhoanghean.com.vn

Bảo vật Quốc gia: Mộ thuyền Việt Khê, ngôi mộ thuyền lớn nhất của văn hóa Đông Sơn

Mộ thuyền là một trong những táng tục đặc trưng của văn hóa Đông Sơn. Cho đến nay, mộ thuyền đã được phát hiện trong nhiều di tích Đông Sơn, cung cấp những tư liệu quý báu cho chúng ta tìm hiểu về tính chất cũng như các mối quan hệ của văn hóa nổi tiếng này. Một trong những phát hiện sớm nhất và quan trọng nhất về mộ thuyền trong văn hóa Đông Sơn đó là ngôi mộ Việt Khê (mộ số 2 – M2).

Mộ Việt Khê M2 được phát hiện vào năm 1961 cùng với 4 mộ thuyền khác tại một cánh đồng ven sông Hàn, thuộc thôn Ngọc Khê, xã Phù Ninh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Trong 5 ngôi mộ, mộ Việt Khê M2 là quý giá nhất bởi còn khá nguyên vẹn và có nhiều đồ tùy táng, với hơn 100 hiện vật chôn theo.


Mộ Việt Khê được phát hiện tại công trường đào đất Việt Khê, xã Phù Ninh, huyện Thủy Nguyên,

thành phố Hải Phòng năm 1961

Đây là ngôi mộ thuyền lớn nhất của văn hóa Đông Sơn, làm từ thân cây khoét rỗng, có hình dáng như một chiếc thuyền độc mộc với một đầu to, một đầu nhỏ. Quan tài có tiết diện hình tròn, gồm có phần thân và phần nắp, dài khoảng 4,76 m, cao khoảng 0,6 m. Mặt trong của quan tài được khoét rất đều và đẹp, nhưng mặt bên ngoài chỉ được bóc lớp vỏ cây chứ không có vết chế tác.


Mộ thuyền Việt Khê, Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.500 – 2.000 năm. Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2013

Đây cũng là ngôi mộ thuyền có nhiều đồ tùy táng nhất trong văn hóa Đông Sơn, với hơn 100 hiện vật, bao gồm đồ đồng, đồ sơn, một số đồ tre gỗ và da, nhưng không thấy có đồ sắt và đồ gốm. Những đồ tùy táng này được sắp xếp như sau: ở đầu to xếp những hiện vật cỡ lớn như trống, thạp, bình, đỉnh; ở đầu nhỏ đặt các công vụ và vũ khí như rìu, đục, dao găm; ở giữa có chuông, khay, thố và một mảnh da có sơn, dọc hai bên đặt các loại giáo có cán và bơi chèo bằng gỗ; dưới đáy quan tài còn có nhiều đồ đan, vải đã bị mục nát. Trong những đồ tùy táng này, bên cạnh các hiện vật đặc trưng của văn hóa Đông Sơn còn có các hiện vật phản ánh sự giao lưu, giao thoa văn hóa như kiếm, chuông, dao gọt hay khay.

Một số đồ tùy táng mộ thuyền Việt Khê:


Muôi đồng trang trí hình người thổi khèn


Muôi đồng hình tẩu


Đỉnh đồng


Bình đồng


Thạp đồng


Thố đồng


Âu đồng


Rìu đồng


Dao đồng


Giáo đồng


Trống đồng


Mặt trống đồng

Dựa trên kĩ thuật chế tác quan tài và đặc trưng đồ tùy táng, có thể định niên đại mộ Việt Khê M2 ở vào khoảng thế kỷ 3 – 2 trước Công nguyên.

Việc phát hiện mộ thuyền Việt Khê có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó không chỉ là nguồn tài liệu quý giá để nghiên cứu về táng tục và táng thức của cư dân Đông Sơn, mà còn là cơ sở để nghiên cứu về lịch sử hình thành giai cấp trong xã hội Đông Sơn, về mối quan hệ văn hóa giữa khu vực Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc, hay về các ngành nghề thủ công truyền thống.

Với những ý nghĩa đó, mộ Việt Khê M2 đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia vào năm 2013. Hiện nay mộ Việt Khê M2 đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Hà Nội) và luôn là một điểm dừng thú vị, hấp dẫn đối với khách tham quan trong và ngoài nước./.

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Sưu tập trang sức văn hóa Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Văn hóa Đông Sơn được phát hiện đầu tiên vào năm 1924 bên bờ sông Mã thuộc làng Đông Sơn, huyện Đông Sơn, nay thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa. Cho đến năm 2014, quá trình phát hiện và nghiên cứu Văn hóa Đông Sơn đã tròn 90 năm. Trải qua gần một thế kỷ, với những thành tựu của khảo cổ học, chứng cứ về Văn hóa Đông Sơn, một thời kỳ phát triển rực rỡ trong lịch sử dân tộc Việt Nam được nhiều chuyên gia, cũng như công chúng trong và ngoài nước hoàn toàn thán phục. Đây cũng là thời kỳ tạo tiền đề cơ sở vật chất cho sự ra đời nhà nước đầu tiên – nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, và là nền tảng hình thành truyền thống văn hóa Việt Nam.

Văn hóa Đông Sơn được phân bố chủ yếu ở 3 lưu vực sông chính đó là sông Hồng, sông Mã và sông Cả, thuộc các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Về niên đại, tồn tại trong khung thời gian từ cuối thiên niên kỷ I trước Công Nguyên đến thế kỷ 2 sau Công Nguyên. Văn hóa Đông Sơn hình thành và phát triển trên nền tảng của những văn hóa tiền Đông Sơn (Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun), cách ngày nay 4.000 đến 2.500 năm.

Hiện nay, số lượng di vật đồ sộ thuộc Văn hóa này được lưu giữ ở các bảo tàng trong nước và nước ngoài, các sưu tập tư nhân, nhưng có lẽ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là một trong những đơn vị lưu giữ nhiều hiện vật Văn hóa Đông Sơn nhất, gồm các loại hình như: đồ dùng sinh hoạt, công cụ lao động, vũ khí, nhạc khí và đồ trang sức. Mỗi sưu tập đều có những chức năng sử dụng khác nhau, ẩn chứa trong mình những ý nghĩa sâu sắc, từ đó phản ánh nhiều khía cạnh trong đời sống của cư dân xã hội đương thời.

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả muốn giới thiệu đến công chúng một sưu tập hiện vật đặc sắc: “Sưu tập trang sức Đông Sơn” hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Sưu tập không những đa dạng về loại hình, mà còn phong phú về chất liệu như đồng, đá, mã não, thủy tinh,…trong đó trang sức đồng chiếm số lượng nhiều hơn cả.

Văn hóa Đông Sơn là thời kỳ nở rộ của các sản phẩm đồng thau, với sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật đúc đồng, những sản phẩm đồng đã dần chiếm ưu thế trong đời sống của cư dân Đông Sơn. Trang sức bằng đồng được tìm thấy khá nhiều trong các di chỉ thuộc Văn hóa này, đa dạng về loại hình và kiểu dáng như: vòng (gồm vòng ống chân, vòng ống tay, vòng trổ thủng, vòng hình sống trâu, vòng có mặt cắt ngang hình bầu dục, hình tròn, hình lòng máng,…) trâm cài, khóa thắt lưng,… Một trong những loại hình đồ trang sức đồng được cư dân Đông Sơn ưa chuộng nhất là vòng ống. Vòng thường có hình nón cụt hay hình trụ rỗng,… trên thân có những đường gờ nổi song song với nhau, các đường chỉ chìm, đường tròn tiếp tuyến có chấm giữa, hoa văn sóng nước, ở một hay hai đầu thường được trang trí hoa văn hình bông lúa, hình chữ S,…Vòng ống loại này thường có một rãnh hở để điều chỉnh độ rộng khi đeo. Nhiều chiếc vòng ống, ở vành miệng và thân được gắn nhạc đồng, chứng tỏ, ngoài chức năng làm đẹp, những chiếc vòng ống này còn là loại nhạc cụ độc đáo, đặc biệt trong những lễ hội. Bởi khi múa, những quả nhạc đồng (lục lạc) có kích thước xấp xỉ bằng nhau, đã rung đập vào nhau hay đập vào thân vòng tạo nên những âm thanh vui nhộn. Những lục lạc đồng không chỉ được gắn trên vòng ống, các nhà nghiên cứu còn bắt gặp chúng được gắn trên một số hiện vật khác của Đông Sơn tìm thấy trong các di chỉ ở Làng Vạc (Nghệ An) như chuông đồng, muôi đồng, xà tích, khuyên tai, nhẫn, khóa thắt lưng. Điều đó càng chứng tỏ đời sống của cư dân dân Đông Sơn gắn liền với âm nhạc và nhảy múa, đặc biệt, trong những dịp hội hè, tế, lễ. Những hình ảnh này đã được khắc họa trên một số trống đồng Đông Sơn như hình người đội mũ lông chim hóa trang nhảy múa, qua những khối tượng như: tượng người cõng nhau thổi khèn (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia – Bảo vật Quốc gia năm 2012), hay qua tượng người thổi khèn trên cán muôi đồng trong mộ thuyền Việt Khê,…. Trong khi múa, có nhiều nhạc khí đệm theo như: trống, chiêng, khèn,…và trong một dàn nhạc có nhiều khạc khí như vậy thì vòng ống gắn nhạc có tác dụng làm cho tiết tấu bản nhạc thêm vui tươi, nhộn nhịp. Vòng ống chân, ống tay còn có chức năng chống đỡ những vật nhọn, nặng đâm vào cổ tay, cổ chân. Đặc biệt, đối với đàn ông, nó như một thứ giáp chắn khi ra trận. Nhiều dân tộc còn đeo nhiều vòng ở cổ tay, cổ chân để tránh vắt cắn khi đi rừng.


Vòng tay hình sống trâu trang trí trổ thủng, đồng

Người Đông Sơn rất thích đeo nhiều trang sức, ngoài trang sức ở tai, cổ, tay, thì họ còn quan tâm đến mái tóc,. Những chiếc trâm cài đầu có chất liệu đồng tìm thấy trong các di chỉ Văn hóa Đông Sơn cũng là loại hình trang sức mang đặc trưng của cư dân thời kỳ này. Ngoài chức năng giữ cho mái tóc gọn gàng, trâm cài còn là vật trang trí, tô điểm cho mái tóc. Những phụ nữ quý tộc thường cài những loại trâm đẹp, có kích thước lớn, điển hình như chiếc trâm hình chữ P (gần giống hình chiếc vợt cán dài), mang ký hiệu LSb 24291, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia nhượng lại của ông Triệu Văn Ánh ở Hà Nội năm 1999.


Trâm cài tóc, đồng

Bên cạnh đó, khóa thắt lưng cũng là loại hình trang sức bằng đồng độc đáo của các thủ lĩnh, quan lại và những người giàu có thời kỳ này. Trên khóa thắt lưng thường trang trí những đường xoắn ốc, trang trí hình chữ S, có khóa thắt lưng gắn thêm lục lạc, và có những khóa thắt lưng trang trí cá sấu, hình rùa. Những con vật thể hiện cho sự dũng mãnh của các thủ lĩnh thời Đông Sơn.

Như vậy, những đồ trang sức này không chỉ có chức năng làm đẹp mà nó còn đóng vai trò quan trọng làm phong phú đời sống nghệ thuật, tinh thần và tâm linh của con người.

Bên cạnh những đồ trang sức bằng đồng, loại hình trang sức đá cũng được cư dân Đông Sơn ưa chuộng, gồm các loại hình như vòng tay các loại, khuyên tai, hạt chuỗi,…với kỹ thuật khoan tách lõi, mài, giũa, đánh bóng,… Có lẽ khuyên tai đá hình vành khăn là loại hình phổ biến của cư dân Đông Sơn. Loại đá được người Đông Sơn lựa chọn làm đồ trang sức là các loại đá trắng, xanh, có vân, xám, vàng nâu, nổi bật nhất là màu đỏ của mã não, xanh mát của đá ngọc hay trong suốt của thạch anh. Như vậy, để làm đẹp, người Đông Sơn không chỉ chế tạo ra các loại hình trang sức độc đáo, mà còn chú trọng về màu sắc của chúng, bởi chúng góp phần tôn thêm vẻ đẹp cho bản thân họ. Đặc biệt, trong Văn hóa Đông Sơn có những hạt chuỗi đá dài 3 – 4cm, được mài vát 2 đầu, đây là loại hạt chuỗi không phải để đeo ở cổ, mà theo một số tài liệu dân tộc học thì chúng được đeo ở tai, có lỗ ở giữa để cắm giải tua hay lông chim để trang trí.


Khuyên tai hình vành khăn, thạch anh

Ngoài những trang sức bằng đồng, đá, cư dân Đông Sơn còn sử dụng đồ trang sức bằng thủy tinh. “Sản xuất thủy tinh là một nghề hoàn toàn mới, chỉ ra đời vào thời Đông Sơn, có ý kiến nói đến sự ra đời sớm của trung tâm chế tạo thủy tinh Sa Huỳnh và ảnh hưởng lan tỏa của nó đến các vùng xung quanh,… Như vậy nghĩa là nghề làm thủy tinh Đông Sơn có nguồn gốc hay ít nhất thì cũng chịu ảnh hưởng của nghề thủy tinh Sa Huỳnh”. [Hà Văn Tấn (1994), Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội]. Trang sức có chất liệu thủy tinh đang trưng bày và giới thiệu tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia gồm: hạt chuỗi, vòng tay, khuyên tai,… trong đó những chiếc vòng tay được xem là một trong những loại hình tiêu biểu.

Tuy kỹ thuật chế tác thủy tinh không phải là thế mạnh của cư dân Đông Sơn, nhưng với sự xuất hiện của đồ trang sức bằng thủy tinh trong văn hóa này cho thấy: cư dân Đông Sơn ngay từ rất sớm đã có sự giao lưu, trao đổi, cả về kỹ thuật và hàng hóa với các vùng trong khu vực.

Vậy những đồ trang sức đa dạng về chất liệu, phong phú về kiểu dáng, tinh xảo về hoa văn này đã được người Đông Sơn sử dụng như thế nào? Điều đó được phản ánh qua những khối tượng tròn trang trí trên thạp đồng, trên cán dao găm,… Những khối tượng người trang trí ở cán kiếm, cán dao găm đồng được mô tả rất chân thực và sống động như hình người đàn ông mặc khố, đứng chống nạnh, tóc búi tròn, đôi vòng tai to chấm xuống vai, tay đeo vòng, cổ đeo vòng dài xuống đến ngực. Đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ trang trí trên cán kiếm được phát hiện ở núi Nưa (Triệu Sơn, Thanh Hóa) thể hiện một vẻ đẹp quý phái. Với mái tóc búi cao hình búp sen, cổ đeo hạt chuỗi dài đến bụng, vòng tai to chấm vai, hai tay đeo vòng. Qua đó cho thấy, thời kỳ này đồ trang sức được cư dân Đông Sơn khá ưa chuộng và sử dụng phổ biến cho cả đàn ông và phụ nữ. Tuy nhiên, cách trang sức của đàn ông và phụ nữ có đôi chút khác nhau, phụ nữ thường đeo khuyên tai to, nặng, dài chấm xuống vai, nhiều tượng Đông Sơn còn phát hiện họ đeo nhiều chiếc khuyên tai móc vào nhau, còn đàn ông thì đeo những chiếc khuyên nhỏ hơn, nhìn nghiêng mới thấy. Những tượng Đông Sơn phát hiện được cho đến nay mới chỉ thấy tượng phụ nữ đeo chuỗi hạt, và thường đeo nhiều chuỗi, chuỗi trong cùng sát vào cổ, chuỗi ngoài cùng chấm đến bụng, loại hình trang sức này chưa thấy ở tượng đàn ông.

Qua số lượng di vật trang sức tìm thấy trong Văn hóa Đông Sơn, chúng ta có thể hiểu, đời sống vật chất của cư dân thời kỳ này đã khá cao, từ đó họ mới có thể tập trung, dành nhiều tâm huyết và thời gian để cho ra đời nhiều loại hình trang sức cầu kỳ, tỉ mỷ và đẹp đến như vậy. Cùng với việc phản ánh sự phong phú trong đời sống tinh thần, những đồ trang sức này còn cho thấy một trình độ kỹ thuật, tư duy, thẩm mỹ trong luyện kim đúc đồng, cũng như chế tác đá của cư dân thời kỳ này.

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Những bằng chứng về nghề luyện kim đúc đồng trong văn hóa Đông Sơn

Văn hóa Đông Sơn (khoảng từ thế kỷ thứ 8 – 7 trước Công Nguyên cho đến thế kỷ thứ 1 – 2 sau Công Nguyên) là một nền văn hóa khảo cổ học thời đại kim khí ở Việt Nam, được các nhà khảo cổ học đặt tên dựa vào sự phát hiện ngẫu nhiên một nhóm đồ đồng cổ vào năm 1924 tại làng Đông Sơn ở ven Sông Mã, nay thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa, bắc Trung bộ Việt Nam.

So với các nền văn hóa đồng đại khác ở Miền Trung Việt Nam và trong khu vực Đông Nam Á, văn hóa Đông Sơn nổi trội hơn cả ở bộ sưu tập hiện vật đồng thau, mặc dù đồ sắt cũng đã xuất hiện trong nền văn hóa này. Qua thống kê, tỷ lệ đồ đồng trong văn hóa Đông Sơn chiếm tới gần 90% trong tổng số hiện vật các chất liệu. Số lượng hiện vật đồng được tìm thấy cũng đã lên tới hàng vạn tiêu bản, thuộc nhiều loại hình khác nhau, đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu sản xuất, đời sống của cư dân Đông Sơn.

Đồ dùng sinh hoạt có thạp, thố, bình, lọ, âu, ấm, muôi, thìa, bát, đĩa, đèn thắp sáng,… Công cụ làm nông nghiệp, trồng lúa nước có các loại rìu để khai hoang và các loại lưỡi cày, cuốc, xẻng, mai, thuổng… để làm đất. Đặc biệt, người Đông Sơn đã biết làm ra những chiếc liềm để gặt hái cho năng suất cao hơn hẳn những chiếc nhíp thời tiền Đông Sơn chỉ ngắt được từng bông lúa một. Đối với nghề mộc thì có các loại đục vũm, đục bẹt với nhiều kiểu dáng dài ngắn, thon bè thích hợp với từng kỹ thuật đục chạm khác nhau,…

Khảo cổ học cũng đã chứng minh nghề dệt vải khá phát triển khi tìm thấy dấu tích vải và công cụ dệt vải. Bên cạnh những chiếc dọi xe chỉ bằng gốm là một số loại công cụ chuyên dụng bằng đồng như các loại dao, bàn chải. Đáng chú ý có những chiếc dao găm chuôi bẹt, trên một mặt chuôi có những gai nổi nhỏ giống như gai trên bàn chải. Có thể nói, đây là loại công cụ chuyên dùng trong nghề dệt kết hợp cả hai chức năng chải, cắt… Bộ sưu tập dụng cụ săn bắn và vũ khí đồng Đông Sơn có đầy đủ các loại vũ khí tấn công, phòng ngự, đánh xa, đánh gần như giáo, dao găm, rìu chiến, lao, mũi tên, lẫy nỏ, tấm che ngực,… Các loại khác như nhạc khí, vật dụng nghi lễ, đồ trang sức, nghệ thuật tượng tròn,… cũng không những nhiều về số lượng mà còn đa dạng về loại hình, kiểu dáng, hình thức thể hiện,…


Lưỡi cày đồng Cổ Loa

Một câu hỏi được đặt ra là, đồ đồng Đông Sơn là sản phẩm chế tác của chính cư dân Đông Sơn hay được du nhập từ bên ngoài? Cho tới nay, nhiều bằng chứng khảo cổ học thuyết phục chứng minh việc đúc đồng tại chỗ của cư dân Đông Sơn đã được tìm thấy. Đó là những chiếc khuôn đúc đồng bằng đá cát, đất nung và nồi nấu đồng bằng đất sét trộn vỏ trấu, bã thực vật phát hiện được ở Làng Cả (Phú Thọ), Làng Vạc (Nghệ An) và nhiều di tích khác,… Khuôn đúc hở (một mang) dùng để đúc hình động vật đã tìm thấy ở Lãng Ngâm (Bắc Ninh). Đồ đồng nhỏ thì được làm từ khuôn 2 mang như khuôn đúc chuông, dao găm, rìu, giáo đồng,…

Trong khu vực Thành Cổ Loa, Hà Nội cũng đã tìm thấy hàng trăm mảnh khuôn đúc mũi tên cùng dấu vết lò đúc. Riêng trống đồng được đúc bằng kỹ thuật khuôn sáp 3 mang, sử dụng một lần, đúc xong phá khuôn để lấy sản phẩm nên dấu tích loại khuôn này rất hiếm gặp. Hiện mới phát hiện một mảnh khuôn đúc trống đồng giai đoạn muộn ở Luy Lâu, Bắc Ninh.


Dấu vết lò đúc đồng ở Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội

Kỹ thuật luyện kim, đúc đồng của người Đông Sơn đã đạt tới trình độ cao đáng kinh ngạc mà những chiếc trống đồng, thạp đồng với kích thước lớn, hình dáng cân đối, hoa văn trang trí hoàn hảo, sắc nét đến từng chi tiết,… là những minh chứng tiêu biểu nhất. Cho tới nay, hàng trăm chiếc trống đồng đã được tìm thấy trong phạm vi phân bố của văn hóa Đông Sơn. Đồng thời, một số trống đồng Đông Sơn điển hình cũng được tìm thấy ở nhiều nơi khác thuộc Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. Nhưng những chiếc trống đẹp nhất, hoàn hảo nhất như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà, Cổ Loa chỉ mới phát hiện được ở Việt Nam. Trống đồng Đông Sơn với những nét đặc sắc nói trên, không chỉ là biểu hiện cao nhất của công nghệ đúc đồng mà còn là sản phẩm lao động, tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu cho trình độ trí tuệ, tài năng sáng tạo tuyệt vời của cư dân Đông Sơn.

Nếu như các văn hóa tiền Đông Sơn như Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun chủ yếu mới dừng lại ở giai đoạn hợp kim 2 thành phần là đồng, thiếc thì tới Đông Sơn đã có bước chuyển biến mang tính đột phá. Họ đã tạo ra cả chục loại hợp kim nhiều thành phần với 3 kim loại chính là đồng, chì, thiếc. Sự có mặt của chì đã làm cho nước đồng láng đều và điền đầy vào mọi ngóc ngách của khuôn, giúp cho cư dân Đông sơn đúc được nhiều loại sản phẩm ưu việt hơn các giai đoạn trước cả về kích thước, kiểu dáng, hoa văn trang trí… Hơn nữa, người Đông Sơn đã biết gia giảm số lượng, tỷ lệ thành phần kim loại trong hợp kim cho phù hợp với từng loại hình sản phẩm, công năng sử dụng. Chẳng hạn, những vật dụng sắc nhọn như đục, rìu, mũi tên, dao găm thì sử dụng hợp kim đồng thiếc. Những hiện vật lớn, hoa văn mảnh mai, tinh xảo đòi hỏi kỹ thuật cao thì đều được đúc bằng hợp kim có chì.


Bộ dụng cụ đúc đồng tìm thấy tại Làng Cả, Phú Thọ

Với sự phát triển đột biến, mạnh mẽ như vậy, ngành luyện kim đúc đồng trong văn hóa Đông Sơn hẳn phải là một ngành kinh tế độc lập, đòi hỏi sự chuyên môn hóa và có sự phân công lao động rõ ràng. Một bộ phận cư dân tách khỏi nông nghiệp để chuyên đi khai mỏ, luyện quặng hoặc đúc đồng. Bằng chứng về sự chuyên môn hóa này là tại khu mộ Làng Cả đã phát hiện ngôi mộ của một thợ đúc đồng, được chôn theo 4 khuôn đúc, gồm 1 khuôn đúc chuông, 1 khuôn đúc rìu gót vuông, 1 khuôn đúc giáo và 1 khuôn đúc chuôi kiếm ngắn. Ngoài ra còn có nồi nấu và rót đồng. Trong lòng chiếc trống đồng Cổ Loa tìm thấy tại cánh đồng Mả Tre, Cổ Loa, Hà Nội năm 1982 được chôn theo rất nhiều lưỡi cày và hàng trăm mảnh đồng vụn cùng nhiều phế phẩm, mảnh vỡ đồ đồng được thu thập lại để tái đúc. Trống Cổ Loa là một trong những chiếc trống đẹp nhất. Từ đó có thể thấy, chủ nhân trống Cổ Loa phải là người có quyền lực, giàu có và có thể là một thủ lĩnh luyện kim đúc đồng.

Khi nghề luyện kim phát triển lại tác động tích cực, thúc đẩy các ngành nghề kinh tế khác phát triển theo khi cung cấp các bộ dụng cụ lao động tiên tiến, có hiệu năng cao. Như vậy, có thể nói nghề luyện kim đúc đồng là ngành kinh tế động lực đã tạo ra bước phát triển đột phá về kinh tế, xã hội làm cho văn hóa Đông Sơn thay đổi hẳn về chất, vượt lên hẳn cái nền của các nền văn hóa tiền Đông Sơn. Sự đột phá này là động lực giúp cho kinh tế phát triển, gia tăng giá trị thặng dư dẫn đến nhiều biến đổi sâu sắc về thượng tầng kiến trúc của xã hội Đông Sơn, làm tiền đề hình thành nhà nước sơ khai Văn Lang – Âu Lạc.

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vũ khí văn hóa Đông Sơn – nét đặc trưng trong văn hóa người Việt cổ

Sau 90 năm được phát hiện và nghiên cứu, văn hóa Đông Sơn đã được các học giả trong và ngoài nước hết sức quan tâm và nghiên cứu một cách toàn diện. Các di tích, di chỉ, hiện vật thuộc văn hóa Đông Sơn là một khối tư liệu đồ sộ cho nhiều thế hệ nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử, văn hóa, mỹ thuật… “gặt hái” được nhiều thành công trong các công trình nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, loại hình hiện vật là vũ khí trong văn hóa Đông Sơn vẫn còn nhiều “ẩn số” để chúng ta khám phá.

Có thể dễ dàng nhận thấy, các loại hình vũ khí là những hiện vật được phát hiện nhiều nhất trong các sưu tập về văn hóa Đông Sơn, vũ khí được phát hiện ở hầu hết các di tích thuộc văn hóa Đông Sơn. Tư liệu từ kết quả khai quật một số di tích văn hóa Đông Sơn tiêu biểu cho thấy số lượng vũ khí đồng thau chiếm trên 50% tổng số hiện vật đồ đồng thu được. Tại một số di tích, vũ khí có số lượng áp đảo so với các loại hình hiện vật khác như di tích Vinh Quang, Làng Cả, Thiệu Dương, Đông Sơn, Làng Vạc,…

Vũ khí ra đời và phát triển trong xã hội loài người vừa mang tính quy luật khách quan chung của xã hội vừa có những đặc điểm riêng. Trong quá trình phát triển chung của mỗi dân tộc hay mỗi một quốc gia, loại hình vũ khí cũng có sự phát triển từ thấp lên cao với những chất liệu khác nhau, vũ khí trong văn hóa Đông Sơn đã được cư dân Việt cổ sản xuất từ hai chất liệu đồng thau và sắt. Trong đó, phần lớn là những vũ khí bằng đồng đã tạo nên những nét đặc trưng văn hóa trên cả ba khu vực phân bố chủ đạo của văn hóa Đông Sơn là trung tâm sông Hồng, trung tâm sông Mã và trung tâm sông Cả.

Vũ khí bằng chất liệu đồng thau trong văn hóa Đông Sơn vừa đa dạng về loại hình, vừa độc đáo vể kiểu dáng và tính năng sử dụng. Có thể khắng định, vũ khí giai đoạn này đã phát triển đồng bộ cả về tính năng và kỹ thuật trong quân sự như: vũ khí đánh gần – vũ khí đánh xa, vũ khí tấn công – vũ khí phòng hộ, vừa có vũ khí thực dụng vừa có vũ khí mang tính chất tâm linh, có tính biểu trưng.

Các loại hình chính gồm: Giáo là loại vũ khí đánh gần bằng động tác đâm, gồm hai bộ phận chủ yếu là bộ phận tra cán và lưỡi sắc nhọn để đâm; Lao là loại vũ khí đánh xa bằng phương pháp phóng, phần lớn có họng tra cán dài hơn mũi lao, mặt cắt ngang họng chủ yếu gần hình bầu dục, cũng có họng hình tròn hoặc bán nguyệt. Lưỡi thường giữa dày, mỏng dần về hai bên; Dao găm là loại vũ khí đánh gần, là một trong các di vật tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn; Đinh Ba là loại vũ khí đánh gần, thường có chuôi tra cán, song cũng có một vài chiếc là họng tra cán. Chuôi tra cán thường có mặt cắt ngang hình vuông, cũng có đôi chiếc hình tròn, một số chiếc trên chuôi có mấu. Mũi đinh ba có 3 nhánh trên một khung hình chữ U, đầu nhọn, ngạnh; Kiếm là loại vũ khí đánh gần bằng động tác chém, đâm; Qua là vũ khí đánh gần bằng phương pháp bổ, vốn là một đặc hữu của vũ khí Trung Quốc, nhưng những qua phát hiện trong các di tích văn hóa Đông Sơn có phần lưỡi khác biệt trong chi tiết về kiểu dáng cũng như hoa văn trang trí. Qua Có 3 bộ phận chính là lưỡi, chuôi và hồ. Trên hồ thường có 3 hoặc 4 lỗ thủng hình chữ nhật dẹt thẳng hàng là lỗ để xâu dây buộc vào cán. Rìu chiến được xem là di vật quý hiếm của nền văn hóa này, còn có tên gọi khác là dao phạng vì kiểu dáng nó không giống các loại dao bình thường, mà gần giống với loại dao thái phở ngày nay.

Đặc điểm chung của loại dao phạng là kích thước khá lớn, có bản lưỡi rộng, họng tra cán nhô ra ngoài sống lưỡi, họng và lưỡi không nằm trtên cùng một trục dọc; Hàng vạn mũi tên đồng đã được phát hiện tập trung trong một hố nhỏ ở Cầu Vực Cổ Loa. Phổ biến hơn cả là loại mũi tên 3 cánh nhỏ trụ tròn chuôi dài. Ngoài ra còn có loại mũi tên cánh én dẹt và loại mũi tên giống hình giáo lao nhưng kích thước chỉ dài khoảng 6cm, một số loại hình khác chỉ phát hiện được lẻ tẻ; Lẫy nỏ có cấu tạo gồm các bộ phận hộp lẫy nỏ, lẫy nỏ, cò,… được liên kết với nhau bằng các chốt hình trụ; Tấm che ngực là loại hình vũ khí phòng hộ cho các chiến binh giống như áo giáp, chúng là những tấm đồng mỏng, một mặt có 4 quai nhỏ hoặc 4 lỗ nhỏ ở 4 góc để buộc dây, trên một mặt trang trí các hoa văn tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn như văn vạch ngắn song song, văn vòng tròn có tâm, vòng tròn tiếp tuyến, văn chữ X và văn người hóa trang bơi thuyền, văn cá sấu,… Cá biệt có chiếc còn đeo thêm một vài lục lạc, thường phát hiện được trong các ngôi mộ cùng với các loại vũ khí nên các nhà khảo học thống nhất gọi chúng là tấm che ngực; Bao đeo vũ khí có cấu tạo chung gồm có 3 ống đồng gần tròn, ống giữa to và dài hơn 2 ống 2 bên, các ống một đầu to một đầu nhỏ, được gắn trên một tấm đồng phẳng. Trên các ống tròn trang trí hoa văn kỷ hà rất đẹp và khắc thủng các hình tam giác, chữ nhật, dùng để đeo các loại vũ khí nhỏ nhẹ,…


Hộ tâm phiến, đồng, văn hóa Đông Sơn, 2500 – 2000 năm cách ngày nay


Kiếm ngắn, đồng, văn hóa Đông Sơn, 2500 – 2000 năm cách ngày nay

Vũ khí đồng thau trong văn hóa Đông Sơn không những nhiều về số lượng, mà còn phong phú đa dạng về loại hình và độc đáo về phong cách. Phần lớn vũ khí không được trang trí hoa văn, song cũng không ít dao găm, dao chiến, qua, giáo, kiếm được trang trí hoa văn đẹp mắt, không chỉ trang trí ở phần cán, mà ngay phần lưỡi cũng được trang trí hoa văn mang đậm sắc thái dân tộc. Trong mỗi loại kể trên lại có nhiều hình dáng khác nhau tạo nên sự đa dạng, phong phú.

Ví dụ như:

* Giáo tuy chỉ có hai bộ phận chính, xong những mỗi bộ phận lại được phân loại thành nhiều kiểu dáng: Bộ phận tra cán hầu hết là họng, chỉ một số ít là chuôi tra cán. Họng tra cán có các loại là họng tròn, họng gần hình bầu dục, họng gần vuông. Về kích thước bộ phận họng đa phần trung bình có độ dài bằng khoảng 1/3 chiều dài lưỡi, nhưng bên cạnh đo lại có loại họng dài tương đương lưỡi, có loại họng ngắn. Về kiểu dáng có loại họng xẻ hình đuôi cá, có loại trên họng gắn một quai tròn nhỏ, có loại họng thông sâu đến nửa chiều dài lưỡi, có loại nông hơn. Giáo chuôi tra cán thì có loại chuôi thẳng, có loại chuôi hơi cong; Lưỡi giáo cũng rất đa dạng như lưỡi hình búp đa, hình lá liễu, hình tam giác rìa lưỡi hai bên thẳng, có loại rìa lưỡi uốn lượn; Trên cánh lưỡi chỗ gần họng xòe rộng, có các lỗ thủng hình chữ nhật dẹt nhưng có loại 2 lỗ có loại 4 lỗ, có loại không có lỗ. Loại giáo có lỗ phần lớn phân bố ở lưu vực sông Mã và các khu vực phụ cận. Có chiếc cánh lưỡi phình rộng 2 chỗ trước lúc thon dần đến mũi nhọn. Phần lớn lưỡi có sống nổi cao chạy dọc lưỡi, nên mặt cắt ngang thường có hình thoi dẹt. Giáo có đủ loại kích cỡ khác nhau, có chiếc dài tới trên 50cm, chiều dài trung bình vào khoảng 20 – 25cm.


Giáo, đồng, văn hóa Đông Sơn, 2500 – 2000 năm cách ngày nay

* Lao có hình dạng phổ biến nhất là loại lao lưỡi dẹt có họng tra cán giống như lưỡi giáo, nhưng kích thước nhỏ hơn. Có loại mặt cắt ngang lưỡi gần hình bầu dục, có loại lại có sống nổi cao chạy dọc giữa lưỡi, nên mặt cắt ngang lưỡi có hình thoi dẹt. Đặc biệt hơn có loại lao lưỡi tạo thành hình cánh én gần giống như mũi tên cánh én, nhưng có họng tra cán và kích cỡ to hơn. Bên cạnh đó còn có loại lao ngạnh, có loại 1 ngạnh, có loại 2 ngạnh. Lao ngạnh thường có họng rất dài, trên họng có mấu hoặc một quai tròn nhỏ. Phần lớn họng tròn, song cũng có họng bầu dục dẹt. Có loại họng thon dần về mũi, song cũng có loại phần đầu phình to hơn hẳn thân lao.

* Dao găm có số lượng thì không nhiều lắm nhưng về kiểu dáng thì cực kỳ phong phú và độc đáo. Có nhiều loại dao găm ở đây không giống bất kỳ một loại vũ khí nào của các nền văn hóa khác. Nét độc đáo của dao găm Đông Sơn được thể hiện ở tất cả các bộ phận, từ đốc, cán, chắn tay đến lưỡi, nhưng độc đáo nhất là phần cán. Đốc có loại là đốc hình củ hành thường, hình củ hành có các hàng lỗ thủng hình chữ nhật dẹt. Chắn tay có loại là chắn tay ngang, có loại là chắn tay quặp kiểu sừng trâu. Lưỡi có loại gần hình tam giác, hai cạnh bên thẳng mũi nhọn, có loại hai cạnh bên cong vồng mũi tù, có loại hai cạnh bên uốn lượn mũi nhọn. Cán đơn giản hơn cả là cán hình chữ T. Đẹp và độc đáo hơn cả là cán tượng người và tượng động vật. Dao găm cán tượng người và động vật phát hiện ở nhiều nơi nhưng phong phú và đẹp nhất là bộ sưu tập dao găm ở khu mộ táng Làng Vạc (Nghệ An). Một số dao găm trên cán cũng như hai mặt lưỡi được trang trí hoa văn các vòng tròn có tâm, vòng tròn tiếp tuyến, văn các vạch ngắn song song và văn động vật như cá sấu, hươu nai,…


Dao găm, đồng, văn hóa Đông Sơn, 2500 – 2000 năm cách ngày nay

* Qua tuy phát hiện được không nhiều, nhưng về kiểu dáng cũng như hoa văn trang trí khá phong phú đa dạng. Chẳng hạn như chuôi, có chiếc thẳng hàng song song với lưỡi, có chiếc chuôi vểnh lên, có chiếc chuôi lại cụp xuống. Chuôi thường có dáng gần hình thang trên mặt có một số lỗ thủng hình chữ nhật và hình tròn. Lưỡi có chiếc thon nhỏ vuốt nhọn, có chiếc lưỡi cùng với hồ làm thành một hình tam giác. Phần lớn ở chỗ lưỡi nối với chuôi có tấm mang nổi ở cả hai mặt để kẹp cán khi buộc dây, và gần đấy thường có một lỗ thủng tròn. Một số qua trên lưỡi, chuôi và hồ được trang trí hoa văn kỷ hà và hình động vật như hươu nai và cá sấu khá đẹp.

Với sự ra đời và phát triển của nghề luyện đúc đồng, trong giai đoạn văn hóa Đông Sơn việc sản xuất vũ khí đồng thau có điều kiện phát triển nhanh, mạnh. Vũ khí được sản xuất bằng phương pháp đúc bằng khuôn đá hoặc khuôn đất nung, nên sản xuất được hàng loạt, số lượng tăng nhanh. Bằng phương pháp đúc, vũ khí đồng thau được tăng cường độ sắc, nhọn so với các loại vũ khí khác trước đó, nâng cao độ sát thương đồng thời có điều kiện sản xuất ra nhiều chủng loại vũ khí chỉ trong một thời gian ngắn.

Bên cạnh chất liệu đồng, vũ khí Đông Sơn giai đoạn muộn còn xuất hiện những hiện vật chất liệu sắt và một số hiện vật được chế tác kết hợp từ hai chất liệu, thường là lưỡi được làm bằng sắt, chuôi hoặc tay cầm được làm bằng đồng. Tuy số lượng và loại hình những hiện vật vũ khí được làm từ chất liệu sắt hoặc kết hợp đồng và sắt không nhiều, chỉ gồm một số loại giáo, lao, kiếm… song các hiện vật này lại có những giá trị về văn hóa và sử dụng nhất định. Về mặt sử dụng, rõ ràng chất liệu sắt sẽ tạo ra độ cứng và sắc hơn hẳn chất liệu đồng, vì vậy vũ khí có lưỡi bằng sắt là một cải tiến hết sức quan trọng về mặt kỹ thuật chế tác và khả năng chiến đấu của người Đông Sơn. Về văn hóa, các hiện vật đều mang những nét đặc trưng cơ bản của văn hóa Đông Sơn cả về hình dáng cũng như hoa văn trang trí, bộ phận làm bằng đồng của nhiều hiện vật được trang trí hoa văn rất đẹp, đặc biệt là loại kiếm dài có hoa văn “hình thuyền” (có lẽ tên gọi và ý nghĩa của loại hoa văn này còn cần được nghiên cứu thêm nữa) trên đốc kiếm đã thực sự trở thành một loại vũ khí đặc trưng của văn hóa Đông Sơn.

Đặc biệt, vũ khí văn hóa Đông Sơn, bên cạnh những loại vũ khí có tính kế thừa truyền thống từ giai đoạn trước như giáo, lao, qua, mũi tên, rìu chiến, đã có thêm loại vũ khí tiến bộ nhất lúc bấy giờ là nỏ và mũi tên ba cánh – một loại vũ khí vừa để phòng thủ vừa tấn công tầm xa. Những hình ảnh cỗ máy bắn nỏ được đặt trên các lâu thuyền được khắc họa trên hoa văn trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ,… cùng với việc phát hiện được hàng vạn mũi tên đồng ở Cổ Loa và lẫy nỏ trong một số di tích văn hóa Đông Sơn đã phản ảnh lõi lịch sử trong các truyền thuyết về An Dương Vương xây thành Cổ Loa và là minh chứng rất rõ nét về tài bắn nỏ của cư dân Đông Sơn. Nỏ và cách sử dụng nỏ, cách phối hợp, tác chiến của loại vũ khí này trên chiến trường cũng khẳng định rõ nét thêm bản sắc “phương Nam”, trí tuệ và sức mạnh nội lực trong sự phát triển của cộng đồng cư dân khối Bách Việt nói chung, cư dân Âu Lạc – chủ nhân của văn hóa Đông Sơn nói riêng.


Mũi tên, đồng, văn hóa Đông Sơn, 2500 – 2000 năm cách ngày nay

Từ những nét đặc trưng về loại hình, kiểu dáng, số lượng, hoa văn trang trí của vũ khí trong văn hóa Đông Sơn, chúng ta sẽ có được cái nhìn tổng thể về sự phát triển trong chính trị – xã hội, trình độ kỹ thuật, văn hóa của cư dân giai đoạn này. Sự xuất hiện với số lượng áp đảo, phong phú về loại hình và chất lượng của sản phẩm đã khẳng định cư dân văn hóa Đông Sơn đã đạt đến trình độ khoa học kỹ thuật cao, nhất là trong kỹ thuật luyện kim và làm chủ kỹ thuật chế tác sản phẩm từ các vật liệu kim loại. Và theo quy luật phát triển chung, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đương nhiên sẽ là sự phát triển về kinh tế, xã hội và nền tảng chính trị,…

Hiện tượng này được phản ảnh khá rõ trong các khu mộ táng. Phần nhiều mộ táng không có đồ tùy táng hoặc chỉ có một hai đồ gốm, thì một số mộ có kích thước tương đối lớn chôn nhiều đồ tùy táng, trong đó có một số đồ đồng quý hiếm như đồ dùng để tế lễ và đồ trang sức đẹp, đặc biệt có mộ chôn theo một số lượng vũ khí rất lớn. Điều này phản ảnh xã hội đã có sự phân hóa giàu nghèo và trong xã hội đã xuất hiện các giai cấp có địa vị khác nhau, đồng thời dẫn đến sự tranh giành ảnh hưởng trong cộng đồng, quyền lực thống trị trên một vùng lãnh thổ nhất định,… Đây cũng là nguyên nhân cơ bản để cho các loại vũ khí có điều kiện phát triển về mọi mặt và ngày một trở thành nhu cầu thiết yếu của con người trong giai đoạn này. Cũng theo quy luật phát triển, trên địa bàn phân bố của cư dân văn hóa Đông Sơn, dần dần hình thành những liên minh bộ lạc và hình thức Nhà nước sơ khai mà đỉnh cao là Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng đã ra đời. Và ngay từ buổi bình minh của dân tộc Việt, ông cha chúng ta đã phải liên tục chống lại cũng như đánh thắng nhiều kẻ thù nhăm nhe xâm lược và thôn tính. Như vậy, sự phong phú, đa dạng của vũ khí văn hóa Đông Sơn đã trở thành minh chứng chủ đạo cho một giai đoạn lịch sử hết sức quan trọng – giai đoạn dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Viện Khảo cổ học – Khảo cổ học Việt Nam, Tập II/Thời đại kim khí Việt Nam. NXB KHXH., Hà Nội, 1999.

2. Hà Văn Tấn – Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. NXB KHXH./ 1994

3. Phạm Minh Huyền – Văn hóa Đông Sơn tính thống nhất và đa dạng. NXB KHXH, 1996.