Thời tiền sử và những dữ liệu trong sách “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc cho đến thế kỷ XX” của giáo sư Lê Thành Khôi.

Những di cốt đầu tiên của con người được tìm thấy từ năm 1955 trong các hang ở Ninh Bình và Lạng Sơn là những chiếc răng và xương sọ được cho là của người tối cổ Archanthropien gần với người vượn Trung Quốc ở Lam Điền (khoảng 600.000 năm trước công nguyên). Người ta cũng tìm thấy ở Ninh Bình một số đá cuội được gia công, đó là những công cụ thô sơ để chặt của người tối cổ, được ghè đẽo một mặt và các dụng cụ để cắt chặt được ghè đẽo ở cả hai mặt, thuộc loại Abbeville (điểm khảo cổ ở Pháp) và Claton (điểm khảo cổ học ở Anh). Loại công cụ này có thể gắn với loại Anyathi của Miến Điện, với loại Soani của Ấn Độ.

Trung kỳ và hậu kỳ đá cũ chưa được biết đến, dù người ta đã tìm thấy những mảnh xương của người vượn Pale’anthropien (khoảng 100.000 năm) ở Yên Bái, răng và hàm của người hiện đại, Homo sapiens (khoảng 50.000) ở Ninh Bình và Quảng Bình.

Sơ kỳ đá cũ ở Việt Nam có các di chỉ, di tích Núi Đọ (Thanh Hóa), hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), hang Hùm (Yên Bái) thì thời kỳ này trên thế giới là các di chỉ Abbeville ở Pháp, Clanton ở Anh.

Văn hóa Sơn Vi (phát hiện vào năm 1968 tại Vĩnh Phú) cùng văn hóa Hòa Bình (phát hiện vào năm 1926 tại Hòa Bình) thuộc thời kỳ đá giữa. Văn hóa Hòa Bình khác văn hóa Sơn Vi ở chỗ con người thuộc nền văn hóa này thường sống trong hang động của các khối núi đá vôi ở ven biển cũ, gần suối có đá cuội.

Công cụ đặc trưng của văn hóa Hòa Bình là công cụ đá cuội ghè đẽo một mặt. Công cụ đặc trưng của văn hóa Bắc Sơn là các rìu mài lưỡi.

Dụng cụ tiêu biểu là chiếc “rìu ngắn” (loại rìu có bề ngang lớn hơn bề dọc) đẽo hai mặt, có cán hoặc không có cán. Các dụng cụ khác hình dáng đa dạng – hình trái hạnh đào, hình bầu dục, hình tam giác không đều… là nạo, cắt, chày, cối. Tuy nhiên, những dụng cụ chày và cối không phải dấu vết của một nền nông nghiệp, mà là các dụng cụ được dùng để nghiền rễ cây, thân cây hay củ để lấy chất dinh dưỡng. Đây là những dấu vết của cuộc sống hái lượm.

Do không tìm thấy các mũi tên bằng đá trong những nền văn hóa này (mũi tên bằng đá (vi thạch) là một hiện vật đặc trưng của thời đại đồ đá giữa được tìm thấy trong các nền văn hóa trên thế giới) nên đặt ra giả thiết là thời kỳ này con người đã sử dụng mũi tên bằng tre để săn bắn. Điều này hoàn toàn có cơ sở khi Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với hệ sinh thái thực vật phát triển và tre, gỗ là những loại cây phổ biến.

Người ta tìm thấy xương cá, rìu nằm lẫn với một số mảnh gốm có vết đan lát in trên gốm, các tàn tích vỏ ốc, sò. Như vậy điều khiến nền văn hóa Bắc Sơn khác với nền văn hóa Hòa Bình chính là kỹ thuật mài rìu ở lưỡi và sự phát triển của gốm.

Di chỉ Quỳnh Văn (Nghệ An) được phát hiện văn 1963 cho thấy một loại hình cư trú khác của người nguyên thủy đó là ngoài trời và bên bờ biển. Con người vẫn duy trì săn bắt các loài động vật có vú, bên cạnh đó là lượm sò. Trong di chỉ này người ta tìm thấy một khu mộ táng trong đống vỏ sò này, người chết được chôn ngồi, đầu gối gấp lại, cùng với các dụng cụ và đồ trang sức làm bằng mảnh vỏ sò có đục lỗ. Các dụng cụ có kỹ xảo tương tự như trong văn hóa Bắc Sơn nhưng được được làm bằng phún thạch (bazan) thay vì đá cuội.

Di chỉ Đa Bút (1926) và Đông Khối (1960) ở bên bờ sông Mã (Thanh Hóa) được xếp vào trung kỳ đá mới. Các hiện vật tìm được bao gồm xương động vật có vú, xương cá, xương chim, tên bắn và kim bằng xương cá. Như vậy, thời kỳ này con người đã sống bằng săn bắt, hái lượm và đánh bắt cá. Rìu được mài ở cả hai mặt, cho thấy tiến bộ kỹ thuật đã được thể hiện. Các mộ chôn cá nhân thường được chôn với rìu, các công cụ, đồ trang sức bằng vỏ sò, bằng xương hoặc bằng đá. Người chết được đặt ở tư thế ngồi xổm, đây tư thế bào thai, biểu tượng cho niềm hy vọng về sự tái sinh sau khi chết.

Nông nghiệp xuất hiện vào hậu kỳ thời đại đá mới khi châu thổ sông Hồng gần được lấp đầy.

Gốm Phùng Nguyên sử dụng bàn xoay và nung lò để tạo ra những chiếc chậu lớn hơn và cứng cáp hơn trước. Nồi, chậu có chân, bình, đĩa, chum dùng để đựng các đồ dự trữ. Hoa văn trang trí trên gốm phong phú, có tính hình học: hình xoắn chữ S kép (sẽ gặp trong văn hóa Đông Sơn), các đường thẳng gợn sóng không đều.

Việc tìm thấy trái na và một số hạt gạo ở Đồng Đậu cho thấy thời này đã có nông nghiệp. Các bức tượng con vật như gà, rùa, bò, heo, chó, ếch… đã xác nhận việc chăn nuôi có từ thời kỳ này. Những cây kim bằng xương và dọi xe chỉ bằng đất nung là những vết tích của việc dệt vải.

Như vậy, vào thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên, cư dân bắt đầu khẩn hoang phần phía Bắc và tây Bắc châu thổ sông Hồng. Bên cạnh nền nông nghiệp trên ruộng đốt cỏ, còn có việc canh tác trên ruộng có nước dọc các sông, suối và từ đó dẫn đến việc định cư thành từng làng cố định, nhưng sống thành gia đình riêng rẽ thay vì sống trong nhà tập thể. Viêc hái lượm và săn bắt mất dần tầm quan trọng trước sự xuất hiện của chăn nuôi và đánh bắt cá. Và thời kỳ này con người đã bắt đầu biết dệt.

Nền văn hóa Phùng Nguyên là nền văn hóa trung gian giữa nền văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn với nền văn hóa đồ đồng Đông Sơn. Nền văn minh Phùng Nguyên gắn với nền văn hóa Bắc Sơn bởi việc xử lý đá cuội và báo trước nền văn hóa Đông Sơn bởi một số hình dạng (rìu có chuôi) và một số hoa văn trang trí (vòng xoắn thành chữ S kép).

Văn hóa Phùng Nguyên có những trao đổi với nam Trung Quốc. Điều này được chứng minh qua việc tìm thấy tại Trung Quốc những cái chac (cốc) tiêu biểu của Việt Nam, và tại Phùng Nguyên tìm thấy những con dao ngắn (qua) tiêu biểu của Trung Quốc. Tại di chỉ thời đại đá mới ở Quảng Đông và Phúc Kiến, người ta tìm thấy nhiều chiếc rìu nhỏ tương tự rìu của Phùng Nguyên, kỹ xảo của đồ gốm một phần giống nhau, nhưng hình dáng và trang trí lại gắn với hình dáng và trang trí đồ đồng nhà Thương. => Đây đúng là có hai nền văn hóa khác nhau của các dân tộc đạt đến một trình độ kỹ thuật tương tự nhau.

Nguồn: Sách “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX” – GS. Lê Thành Khôi

Văn hóa Đông Sơn và lịch sử nghiên cứu

 

Văn hoá Đông Sơn là nền văn hóa vật chất của cư dân Việt cổ, tồn tại vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ I – II sau Công nguyên dưới thời đại Hùng Vương. Văn hóa Đông Sơn ra đời, phát triển rực rỡ dựa trên nền tảng của cả một quá trình hội tụ lâu dài những tinh hoa của các giai đoạn tiền Đông Sơn (Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun). Văn hóa Đông Sơn phân bố rộng từ biên giới phía Bắc cho tới Đèo Ngang (Quảng Bình), chủ yếu ở lưu vực ba con sông lớn là sông Hồng, sông Mã và sông Cả. Hiện vật văn hóa Đông Sơn rất đa dạng, phong phú bao gồm công cụ lao động sản xuất, đồ dùng sinh hoạt, nhạc khí, vũ khí, đồ trang sức, đồ tùy táng.

Văn hóa Đông Sơn chính thức được phát hiện và nghiên cứu từ năm 1924, nhưng phải đến năm 1934 một học giả người Áo là Heine – Geldern mới đề nghị gọi tên nền văn hóa đồ đồng này là văn hóa Đông Sơn, từ đó thuật ngữ này được sử dụng một cách phổ biến và chính thống cho đến ngày nay. Năm 1924, một người câu cá tên Nguyễn Văn Lắm đã ngẫu nhiên tìm được một số đồ đồng ở ven sông Mã, thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa. Người này sau đó đã đem số đồ đồng này bán cho L.Pajot (một viên chức thuế quan tỉnh Thanh Hóa). Phát hiện này được báo cáo cho Trường Viễn Đông Bác Cổ, L.Pajot được ủy nhiệm tiến hành khai quật khảo cổ di chỉ Đông Sơn.

Từ năm 1924 đến năm 1932, L.Pajot đã tiến hành nhiều cuộc khai quật và thu được khoảng 489 hiện vật đủ các chất liệu: đồng, đá, gốm, sắt phát hiện được di chỉ mộ táng và cột gỗ dựng nhà sàn. Kết quả của những cuộc khai quật này được giới thiệu trong tác phẩm “Thời đại đồng thau ở Bắc kì và Bắc Trung Kì” tác giả là Goloubew. Từ năm 1935 đến năm 1939, Olov Janse nhà khảo cổ học người Thụy Điển đã 3 lần thực hiện khai quật di chỉ Đông Sơn và nhiều địa điểm khác, kết quả của những lần khai quật này được báo cáo trong “Nghiên cứu khảo cổ học ở Đông Dương”, trong thời gian này còn có rất nhiều nghiên cứu của các học giả nước ngoài về văn hóa Đông Sơn: “Nguồn gốc và sự phân bố của trống đồng kim loại”, “Cư dân Đông Sơn”, “Nhà Đông Sơn”, “Tuổi của trống đồng cổ”, “Nguồn gốc văn minh Việt Nam” v.v.

Trong những năm 40 cùng với quá trình xâm lược và đô hộ nước ta phát xít Nhật cũng đã có nhiều nghiên cứu về văn hóa đồ đồng ở Việt Nam, nhưng họ nghiên cứu chủ yếu thông qua tư liệu và hiện vật thật chứ không tổ chức khai quật khảo cổ như người Pháp.

Sau thành công của cách mạng tháng 8 – 1945, nền khảo cổ học nước nhà bắt đầu được quan tâm nhiều hơn, gắn với tên tuổi của nhiều nhà khoa học như: Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn và nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Đông Sơn đã ra đời: “Văn hóa Đông Sơn hay văn hóa Lạc Việt”, “Văn hóa đồ đồng và trống đồng Lạc Việt”. Nhưng phải đến cuối những năm 50 với việc ra đời của đội khảo cổ thuộc Vụ Bảo tồn Bảo tàng và thành lập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trên cơ sở bảo tàng L.Finot, thì công cuộc nghiên cứu tìm hiểu văn hóa Đông Sơn mới được triển khai mạnh mẽ.

Trong những năm 1960 các nhà khảo cổ việt Nam tiến hành khai quật ở di chỉ Thiệu Dương (Thanh Hóa), đã phát hiện nhiều mộ táng huyệt đất và đồ tùy táng bằng gốm, đồng, đá, đặc biệt còn phát hiện ra nhiều di chỉ mới như: Đào Thịnh, Yên Hưng, Việt Khê, Nam Chính, Châu Can, Phú Hậu, Thanh Đình, Núi Nấp, Gò Công trên địa bàn phân bố dọc từ Bắc Trung Bộ đến dải đất miền Trung. Kết quả của những đợt khảo cổ này được tập hợp trong các công trình: “Báo cáo cụ thể về những mũi tên đồng tìm thấy ở Cổ Loa”, “Những ngôi mộ cổ tìm thấy ở Việt Khê – Hải Phòng”, “Khu mộ cổ Châu Can”, “Những vết tích đầu tiên của thời đại đồng thau Việt Nam”, “ Thời đại Hùng Vương”.

 

 

Cổ vật…

Trong kho tàng di sản văn hoá của bất cứ quốc gia, dân tộc nào, cổ vật luôn luôn giữ một vị trí quan trọng. Nước Việt Nam ta, trong dậm dài phát triển mấy nghìn năm, cổ vật cùng với những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể khác càng có ý nghĩa thiết thực và lớn lao trong việc tìm hiểu lịch sử, văn hoá, nghệ thuật truyền thống của cha ông, trong từng giai đoạn thăng trầm của dân tộc, đặc biệt là ở các giai đoạn con người còn ở thủa hồng hoang, quốc gia dân tộc ở buổi sơ khai.

Cổ vật Việt Nam là một bộ phận của di sản văn hoá Việt Nam. Trong thế giới muôn vẻ của di sản văn hoá, cổ vật thật gần gũi với đời sống đương đại. Không phải đợi đến bây giờ, mà từ thủa xa xưa biết bao tao nhân mặc khách đã chìm đắm trong niềm đam mê cổ ngoạn. Tiếp cận với cổ vật, ta có thể nhận ra một phần chân dung lịch sử nước nhà. Cổ vật được phát hiện qua những cuộc khai quật khảo cổ, những chuyến điền dã sưu tầm ở các miền quê; cổ vật hiện diện trong các di tích đình, chùa, đền, miếu, từ đường dòng họ; trong các sưu tập tư nhân; trong các con tàu đắm cổ ở biển Việt Nam…

Bàn thêm về sự khác nhau giữa gốm Lý và gốm Trần

1. Xương gốm
Xương gốm thời Lý thường trắng và mịn. Còn xương gốm thời Trần có màu đặc trưng là màu khoai sọ.
Nguyên nhân của sự khác biệt này đó là do xương gốm thời Lý được ủ lâu hơn, hàm lượng ô xít sắt ít. Thời Lý là thời kỳ đầu đất nước độc lập tự chủ, dân số ít, chính vì vậy các sản phẩm đồ gia dụng được sản xuất ra với số lượng vừa phải và được chau chuốt, tỷ mỷ trong khâu sản xuất cả trong việc ủ đất và trang trí hoa văn.

Sang thời Trần, dân số tăng nhanh, nhu cầu sử dụng đồ dùng cũng theo đó mà tăng lên. Và một điều hiển nhiên là khi sản xuất với số lượng nhiều thì thời gian ủ xương gốm sẽ được rút ngắn, các sản phẩm sẽ không được tạo hình và trang trí tỉ mỉ như trước nữa. Do thời gian ủ xương gốm bị rút ngắn dẫn đến các ô xít sắt trong xương gốm còn nhiều, khi nung ở nhiệt độ cao, các phản ứng hóa học xảy ra ở bên trong lớp men dẫn đến hiện tượng phồng rộp ở nhiều sản phẩm thời kỳ này.
2. Đáy
Khi quan sát đáy của hai sản phẩm gốm thời kỳ này ta thấy có sự khác biệt rõ ràng. Đáy của gốm thời Lý thường có màu trắng sáng giống như xương gốm và được cắt vét rất tỉ mỉ.

 Đáy bát hiện vật gốm thời Lý có màu trắng sáng và được cắt vét tỉ mỉ

Còn thời Trần do sản xuất với số lượng nhiều nên đáy các hiện vật thường không được chau chuốt,tỉ mỉ như thời Lý.


Đáy các hiện vật bát thời Trần được làm thô và dày hơn

Gốm hoa nâu thời Trần với cách vẽ màu nâu dưới men

Gốm hoa nâu là dòng gốm cổ Duy nhất chỉ có tại Việt Nam.

Gốm hoa nâu đã được các học giả trong và ngoài nước đánh giá là dòng gốm cổ duy nhất chỉ có tại Việt Nam. Gốm hoa nâu xuất hiện từ cuối thế kỷ XII (thời Lý) nhưng phát triển rực rỡ nhất vào thế kỷ XIII – XIV (thời Trần).

Đa số gốm hoa nâu thời Trần được tạo bằng kỹ thuật cạo xương gốm khi mới phủ men nền để tạo đồ án trang trí. Sau đó người thợ dùng bút lông vẽ hoa văn màu nâu trên phần đã được cạo. Men phủ trên nền gốm trắng ngà thường bị rạn hay nứt tạo thành những mảng vân rạn tự nhiên. Điều này làm cho hiện vật trở lên độc đáo và có tính thẩm mỹ cao.

Thạp gốm hoa nâu được tìm thấy ở Thanh Hóa

     Thạp gốm hoa nâu thời Trần

Thạp gốm hoa nâu được trang trí bằng phương pháp cạo men rồi tô nâu

Tuy nhiên, ngoài cách trang trí phổ biến là cạo men rồi tô nâu nói trên. Gốm hoa nâu thời Trần còn có cách trang trí khác là vẽ hoa văn màu nâu dưới men.


Chum gốm hoa nâu được trang trí bằng phương pháp vẽ màu nâu dưới men

Lượng màu nâu được vẽ bằng bút lông, loãng và mỏng trên chum đã tạo ra độ đậm nhạt khác nhau, khi sờ vào khoảng trang trí màu nâu này ta thấy trơn và nhẵn bóng, nhất là khi đưa ra ánh sáng ta sẽ thấy điều này được khẳng định rõ ràng hơn. Hiện tượng này rất ít gặp nhưng đã cho chúng ta biết được rằng các nghệ nhân lúc này đang muốn tìm một phương pháp trang trí khác trong việc trang trí để tạo hiệu quả mới tốt hơn trong sản xuất gốm, tạo tiền đề cho sự ra đời dòng gốm hoa lam nổi tiếng thời Lê sơ sau đó.