Bảo tàng tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang là miền quê nằm trên nền đất cổ, nơi hợp lưu vùng thượng các con sông của hệ Lục đầu giang (sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam). Nơi đây có các dãy núi cao của vùng Đông Bắc Việt Nam: Dãy núi Huyền Đinh – Yên Tử; dãy núi Bảo Đài – Thái Hoà; dãy núi Đồng Nai – Cai Kinh. Thung lũng các dãy núi, con sông này tạo nên những cánh đồng, đồi bãi bậc thang là nơi cư trú, khai thác sinh sống từ ngàn vạn năm về trước. Để rồi đến ngày nay, trên mảnh đất này có rất nhiều làng quê trù phú, đông đúc các cộng đồng cư dân các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chí, Sán Dìu, Dao, Hoa… cùng chung tay xây dựng, gìn giữ quê hương ngày thêm giàu đẹp. Tất cả những truyền thống, lịch sử, nét đẹp văn hóa ấy đã và đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bắc Giang. Continue reading

Bảo tàng tỉnh Ninh Bình

Bảo tàng Ninh Bình nằm ở phía nam Công viên Văn hoá Thúy Sơn, được thiết kế 3 tầng như một đoá sen nổi lên giữa non xanh, nước biếc, bốn mặt đều trang trí biểu tượng trống đồng – biểu tượng của nền văn minh Việt cổ. Bảo tàng Ninh Bình khánh thành ngày 1/9/1995 nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 – 1995). Với 1.200m2 sử dụng, trong đó có 500m2 trưng bày, thông qua các tài liệu,  hiện vật, hình ảnh, Bảo tàng đã phản ánh sinh động vẻ đẹp một vùng đất cổ “ Non nước hữa tình” và quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước oanh liệt của nhân dân Ninh Bình.  Phần trưng bày của Bảo tàng gồm:  


Continue reading

Thăm Bảo tàng cổ vật tư nhân Võ Hằng Gia

Ở ngay trung tâm thành phố Ninh Bình có một không gian nghệ thuật lý thú, dành cho những người đam mê và yêu thích cổ vật. – đó là Bảo tàng cổ vật tư nhân đầu tiên được thành lập ở Ninh Bình, có tên gọi: Bảo tàng cổ vật Võ Hằng Gia.

Continue reading

“Rước nước, tế cá” tri ân nhà Trần một vương triều khởi nghiệp từ nghề chài lưới

Cùng với nghi lễ Rước kiệu Ngọc Lộ và lễ Khai ấn, nghi lễ “rước nước, tế cá” là một trong 3 nghi lễ chính của lễ hội Khai ấn đền Trần. Nghi lễ “rước nước, tế cá” có ý nghĩa tri ân tổ tiên nhà Trần, một Vương triều khởi nghiệp từ nghề chài lưới, gắn với sông nước.
Sáng ngày 19/2, (nhằm ngày 12 tháng giêng), tại khu di tích đền Trần, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, Ban tổ chức lễ hội đền Trần đã tổ chức thực hiện nghi lễ “rước nước, tế cá”. Đây là năm thứ 3 nghi lễ này được phục dựng lại sau nhiều năm mai một.


Các cụ cao niên lấy nước từ Giếng Cổ Continue reading

Bảo tàng tỉnh Nam Định

Bảo tàng Nam Định là một trong số bảo tàng cấp tỉnh có lịch sử hình thành khá sớm trong toàn quốc. Tiền thân là phòng Bảo tàng thuộc Ty Văn hoá Nam Định ra đời năm 1958. Năm 1980, UBND tỉnh có quyết định thành lập Nhà bảo tàng. Từ đây Bảo tàng tỉnh đã chính thức trở thành một thiết chế văn hóa có đầy đủ các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của một bảo tàng cấp tỉnh. Năm 2011, Bảo tàng tỉnh Nam Định đã được xếp hạng 2 trong hệ thống bảo tàng Việt Nam

Continue reading

Bảo vật quốc gia: “Rồng đá” (Xà Thần) ở đền thờ Lê Văn Thịnh

Đền thờ Lê Văn Thịnh tọa lạc ở sườn phía nam núi Thiên Thai, nay thuộc thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình. Đây là nơi tôn thờ, tưởng niệm sâu sắc về Trạng nguyên khai khoa-Thái sư Lê Văn Thịnh, một danh nhân tiêu biểu có công lao to lớn đối với vương triều Lý và đất nước ta
Ngôi đền được xây dựng từ lâu đời bên cạnh chùa Thiên Thư, trên mảnh đất vốn là nhà riêng của Thái sư Lê Văn Thịnh. Hiện trong khu di tích còn bảo lưu được nhiều tài liệu hiện vật phản ánh về cuộc đời, sự nghiệp Thái sư Lê Văn Thịnh trong đó có tượng “rồng đá”, được các nhà nghiên cứu đánh giá là “độc nhất vô nhị” chưa từng có trong nền mỹ thuật Việt Nam. Continue reading

Bước đầu tìm hiểu chức năng của đồ gốm Việt (phần 2)

  1. Chức năng trang trí

Nếu tiếp xúc với đồ gốm mà không tìm hiểu sự khởi nguồn, khởi nghiệp, về lịch sử thăng trầm của nó, chúng ta sẽ nghĩ, chúng sinh ra dường như để làm đẹp. Ngay từ những mảnh gốm thô trang trí hoa văn lược hoặc văn chải tìm thấy trong di chỉ văn hóa Hòa Bình đã thể hiện một trong những đặc trưng và ưu thế của đồ gốm là tính trang trí, cho dù những hoa văn này được giải thích là mang tính công năng (tăng cường ma sát khi vận chuyển) nhiều hơn là tính thẩm mỹ. Những nhà nghiên cứu mỹ thuật thường nói, nghiên cứu lịch sử đồ gốm cũng là nghiên cứu lịch sử của những dạng, những loại hình hoa văn với những đồ án phong phú, đa dạng, phát triển từ thô sơ đến phức tạp, thể hiện trình độ tư duy và mỹ cảm của người đương thời. Cùng với khả năng sáng tạo ra đồ gốm, người Việt cũng sáng tạo ra những thủ pháp tạo hình và trang trí trên gốm, để loại vật dụng này ngày càng làm đẹp thêm cho cuộc sống.

Ngay từ thời Đại Việt, bên cạnh các chức năng là đồ dùng sinh hoạt hoặc vật liệu trang trí kiến trúc, đồ gốm đã được bày đặt (ở một vị trí cố định) trong nội thất hoàng cung với chức năng làm đẹp, làm sang cho gia chủ như một bức tranh quý hay một vật trang sức. Ở vị trí này, chức năng thực dụng của đồ gốm dường như bị triệt tiêu, nhưng giá trị của đồ gốm được nâng cao, mang ý nghĩa như một tác phẩm nghệ thuật. Điều này giải thích tại sao từ thời Lê sơ, đồ gốm đã được triều đình dùng làm cống phẩm và hàng hóa trao đổi trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và các nước khác. Cùng với các sản phẩm được chế tác từ kim loại quý như vương miện, ấn, ngọc tỷ, đồ trang sức (bằng vàng, bạc, kim cương), nhiều đồ gốm được sưu tầm, gìn giữ và trao truyền như những báu vật quốc gia. Bằng con đường này, gốm cổ của nước ta đang được tàng trữ tại nhiều bảo tàng trên thế giới. Continue reading

Bước đầu tìm hiểu chức năng của đồ gốm Việt (phần 1)

Khi nghiên cứu cách sử dụng đồ gốm trong những khối cộng đồng đương đại, quan sát xem việc sử dụng đó có liên quan như thế nào đến cách tổ chức của những khối cộng đồng này và từ chỗ đó đi ngược về quá khứ “để xem có thể nói gì về đồ gốm thời trước”, G.Solheim Wilhelm (1) cho rằng, đồ gốm ở Đông Nam Á đã đảm đương một số chức năng nhất định trong xã hội, “những chức năng ấy được phân loại ra ba bình diện khác nhau xét trên quan điểm của đồ gốm: chức năng của nó đối với người sử dụng, nghĩa là những chức năng vật chất của đồ gốm; chức năng của nó đối với người sản xuất, nghĩa là chức năng kinh tế và tâm lý; chức năng của nó đối với xã hội, cộng đồng, trong nội bộ khối cộng đồng cũng như bên ngoài khối, trong những mối quan hệ giữa khối này với khối khác…” và, “xét trên bình diện sử dụng, chức năng của đồ gốm phải được phân nhỏ hơn nữa…”.

G.S.Wilhelm đã phân chia chức năng sử dụng (chức năng vật chất) của đồ gốm thành hai tiểu loại là thực dụng và lễ nghi, nhưng sau đó, lại tỏ ra phân vân về cách chia này. Tác giả cũng thử đưa ra một cách phân chia khác với việc dùng hai thuật ngữ thế tục và linh thiêng thay cho thực dụng và lễ nghi, nhưng rồi tự loại bỏ và kết luận: “Ở mỗi bình diện phân chia tiểu loại đều có những khó khăn tương tự” và “… ta còn gặp những khó khăn khác khi cần xếp một chức năng loại biệt nào đó vào tiểu loại này haytiểu loại khác. Chẳng hạn, việc sử dụng đồ gốm như một vật phẩm biểu trưng cho sự sang trọng được xếp thành một tiểu loại trong nhóm nghi lễ vì ở Đông Nam Á, đồ gốm hay đóng vai trò quan trọng trong những dịp lễ lạc…”. Đúng như G.S.Wilhelm đã nhận định, ở những cấp phân loại mang tính trừu tượng, nhiều khi việc phân loại chỉ là sự võ đoán. Continue reading

Mây – biểu tượng tạo hình của mỹ thuật thời Lý – Trần

Môtip mây là biểu tượng không thể thiếu trong các công trình kiến trúc tôn giáo truyền thống. Sự xuất hiện hằng xuyên của môtip mây làm cho tác phẩm hay các công trình tôn giáo thêm giá trị thẩm mỹ, đồng thời cũng không làm mất đi tính dân tộc sẵn có. Chạm khắc môtip mây thời Lý – Trần không chỉ mang chức năng trang trí cho các công trình kiến trúc mà còn tạo điều kiện cho người đương thời và cả đời sau tiếp xúc và cảm nhận nghệ thuật chạm khắc này bằng mỹ cảm dân tộc, bằng sự duy trì phong cách tạo hình riêng biệt, tinh tế, khỏe, rõ ràng.

Mây là để chỉ hiện tượng thiên nhiên, mây với vai trò làm ra mưa nên liên quan đến hoạt động của trời. Đối với cư dân nông nghiệp, mây mang đến những dấu hiệu tốt lành, hạnh phúc bởi mây là dấu hiệu, báo hiệu có mưa… Có lẽ từ những khái niệm về mây như vậy mà chúng ta thấy các nghệ nhân dân gian xưa ghép môtip mây vào cùng những đồ án trang trí mang tính linh thiêng như: mây – rồng, mây – tiên nữ, mây – phượng, mây – mặt trời, mây – lửa. Dân gian thường dùng hình tượng rồng, mây như rồng mây gặp hội (long vân khánh hội) để nói về cơ hội may mắn của con người, chỉ đến việc rồng gặp mây như sự đỗ đạt, vua sáng gặp tôi hiền. Continue reading